SÔNG MEKONG và chúng ta (8)

Mãi đến hôm nay, báo chí và trí thức trong nước mới dám lên tiếmng về việc TQ xây hàng loạt đập thuỷ điện trên thượng nguồn sông Mekong. Dẫu rất muộn màng, yếu ớt nhưng ...có còn hơn không !
Dòng sông câm nín

Bài viết sau đây của tác giả Ngô Thế Vinh cung cấp cho bạn đọc những thông tin không chỉ về chuỗi 14 con đập bậc thềm Vân Nam mà là một cái nhìn toàn cảnh về những bước khai thác hủy hoại trên suốt chiều dài của dòng sông kể cả khúc hạ lưu với thêm 11 con đập mới. Theo tác giả, nan đề của Việt Nam thế kỷ 21 là tham vọng bành trướng vô hạn, liên tục của Trung Quốc đang từng bước “Tây Tạng hóa” biển Đông, khống chế toàn con sông Mekong.

Bác Sĩ Ngô Thế VinhẢnh : www.ngothevinh.com

Bác Sĩ Ngô Thế Vinh
Ảnh : www.ngothevinh.com

Gửi Nhóm bạn Cửu Long
LỜI DẪN_ Dư luận mới đây lại một thoáng xôn xao khi có phúc trình của Liên Hiệp Quốc đề cập tới con đập mẹ Xiaowan/ Tiểu Loan cao nhất thế giới vừa hoàn tất, cùng với những tác hại của chuỗi đập Vân Nam như một “mối đe dọa duy nhất-lớn nhất / the single greatest threat”đối với hệ sinh thái sông Mekong. Báo chí trong nước có vẻ đang được phép mạnh dạn lên tiếng “Hãy Cứu Sông Mekong” dĩ nhiên với rất ít đụng chạm tới nước lớn Trung Quốc mà chỉ với các nước láng giềng nhỏ như Thái Lan, Lào, Căm Bốt khi nói tới nguy cơ thêm 11 con đập thủy điện chắn ngang dòng chính sông Mekong khúc Hạ Lưu. Rất đáng lưu ý là Trung Quốc đã có liên hệ trực tiếp đầu tư tới 4 trong số 11 con đập ấy, không kể 14 con đập bậc thềm Vân Nam đã là sở hữu của riêng họ.
Nhưng không lẽ chờ tới năm 2009, sắp qua đi thập niên đầu của thế kỷ 21, đứng trước “sự đã rồi”giới khoa học trong nước mới “dè dặt” lên tiếng bày tỏ mối quan ngại về việc Trung Quốc xây đập và hồ chứa nước trên thượng nguồn sông Mekong. Đối với các nhà hoạt động môi sinh bên ngoài, trong đó có “Nhóm Bạn Cửu Long” họ đã biết rõ và liên tục lên tiếng báo động từ hơn một thập niên qua về hiểm họa các dự án xây đập của Trung Quốc và cả các con đập hạ lưu.
Với sự đồng ý của tác giả, RFI và báo Khởi Hành cùng giới thiệu bài viết mới của bác sĩ nhà văn Ngô Thế Vinh, tác giả 2 cuốn Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng và Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch nhằm cung cấp cho bạn đọc những thông tin không chỉ về chuỗi 14 con đập bậc thềm Vân Nam mà là một cái nhìn toàn cảnh về những bước khai thác hủy hoại trên suốt chiều dài của dòng sông kể cả khúc hạ lưu với thêm 11 con đập mới. Cũng để thấy rằng nan đề của Việt Nam thế kỷ 21 là tham vọng bành trướng vô hạn không ngưng nghỉ của nước lớn Trung Quốc đang từng bước “Tây Tạng hóa” biển Đông, khống chế toàn con sông Mekong và đã cắm được mũi dao nhọn vào cuống họng Tây Nguyên vốn là một địa bàn chiến lược sinh tử của Việt Nam.

TIN CHẤN ĐỘNG: THÊM 11 CON ĐẬP HẠ LƯU

“Cứu Lấy Sông Mekong”, đó là tiêu đề của một kiến nghị mới đây được dịch ra 7 thứ tiếng với hơn 15000 chữ ký (18-06-2009) được gửi tới thủ tướng Thái Lan Abhisit Vejjajiva cùng với các chánh phủ khác trong lưu vực như Lào, Căm Bốt, Việt Nam, bày tỏ mối quan ngại về dự án chuỗi 11 con đập Hạ Lưu chắn ngang dòng chính sông Mekong, nhất là với hai con đập Ban Koum 2330 MW và Pak Chom 1079 MW của Thái Lan. Kiến nghị trên đã không được gửi tới Bắc Kinh mặc dù Trung Quốc đã và đang xây những đập thủy điện Vân Nam lớn hơn các dự án vùng Hạ Lưu rất nhiều, và ngay cả trong số 11 dự án đập Hạ Lưu, đã có 4 con đập do các công ty Trung Quốc trực tiếp đầu tư vào.
“Nỗi Sợ Hãi Trung Quốc/ Sinophobia” có thể nói là mẫu số chung của các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.
Đâu phải là bất ngờ mà nẩy ra kế hoạch 11 con đập lớn Hạ Lưu chắn ngang dòng chính sông Mekong. Đó là một tiến trình phát triển liên tục từ nhiều năm, khi nhanh khi chậm, do cấu kết của các công ty tư bản xây đập với các chánh phủ độc tài trong vùng. Phản ứng ồn ào của các nhóm cư dân liên hệ và cả những nhà hoạt động môi sinh chỉ có giá trị biểu trưng chứ không có thực lực đối trọng để có thể ngăn chặn hay thay đổi tiến trình ấy.
Cách đây hơn hai năm, theo tin báo The Nation Bangkok (04/11/2007), bộ Năng lượng Thái cho tiến hành khảo sát tính khả thi của dự án đập thủy điện khổng lồ Ban Koum công suất 2230 Megawatt chắn ngang dòng chính sông Mekong nơi tỉnh Ubon Ratchathani đông bắc Thái với dự trù kinh phí lên tới 2,5 tỉ Mỹ kim.
Theo Prakob Virojkut, viện trưởng đại học Ubon Ratchathani, dự án này sẽ bị các quốc gia láng giềng như Lào, Căm Bốt và Việt Nam chống đối. “Chẳng phải dễ dàng để thực hiện một công trình xây đập lớn như vậy do những ảnh hưởng rộng rãi trên địa phương và liên quốc gia”. Lào sẽ là quốc gia đầu tiên chống dự án này vì ảnh hưởng tới dịch vụ bán điện của Lào sang Thái Lan. Lào vẫn được coi như một “xứ Kuwait thủy điện” của Đông Nam Á.
Đa số cư dân Thái đều có thái độ chống đối dự án đập vì họ đã từng trải qua kinh nghiệm đắng cay về con đập Pak Moon 15 năm trước đây. Pak Moon là một con “đập-dòng-chảy / run-of-river” trên sông Moon, phụ lưu sông Mekong, cao 17m, hoàn tất tháng 11/1994 với công suất 136 MW là con đập đầu tiên có thang cá / fish ladder, nhưng cá đã chẳng có trí thông minh như người để biết “leo thang” về nguồn. Đập Pak Moon rõ ràng là một thất bại toàn diện về điện năng với thêm bao nhiêu tác hại cho nguồn cá và môi sinh đến mức cư dân Thái đòi hỏi phá con đập.
Không phải là mới, các dự án đập thủy điện chắn ngang sông Mekong vùng Hạ lưu đã có từ thời Ủy Ban Sông Mekong. Cũng vị trí những con đập ấy đã được các cơ quan tham vấn Canada và Pháp tái đề xuất và Ban Thư Ký Sông Mekong ấn hành năm 1994. Đây sẽ là một chuỗi “đập-dòng-chảy” cao từ 30 tới 40 mét, gồm chuỗi những hồ chứa với tổng chiều dài khoảng 60 km, và sẽ có khoảng 57000 dân phải di rời. Nhưng rồi các dự án ấy bị gác lại vì quá tốn kém và cả do mối e ngại về tác hại rộng rãi trên môi sinh.
Kể từ đầu năm 2006, các công ty Thái Lan, Mã Lai và Trung Quốc – lại vẫn Trung Quốc, lại được phép tiếp tục thực hiện những cuộc khảo sát về tính khả thi của 6 con đập, sau đó tăng lên tới 11 con đập vùng Hạ Lưu, bao gồm từ bắc xuống nam:
Bản đồ những con đập trên dòng chính sông MekongNguồn: www.internationalrivers.org

Bản đồ những con đập trên dòng chính sông Mekong
Nguồn: www.internationalrivers.org

1/ Đập Pak Beng, Lào 1320 MW; bảo trợ dự án: công ty “Trung Quốc” Datang International Power Generation Co. và chánh phủ Lào.
2/ Đập Luang Prabang, Lào 1410 MW; bảo trợ bởi Petrovietnam Power Co. và chánh phủ Lào.
3/ Đập Xayabouri, Lào, 1260 MW, tỉnh Xayabouri, Lào; bảo trợ bởi công ty Thái Lan Karnchang và chánh phủ Lào.
4/ Đập Pak Lay, Lào, 1320 MW tỉnh Xayaburi; bảo trợ bởi công ty “Trung Quốc” Sinohydro Co. tháng 6, 2007 để khảo sát của dự án.
5/ Đập Xanakham, Lào, 1000MW; bảo trợ bởi công ty “Trung Quốc” Datang International Power Generation Co.
6/ Đập Pak Chom, biên giới Lào Thái, 1079 MW
7/ Đập Ban Koum, biên giới Lào Thái, 2230 MW, tỉnh Ubon Ratchathani; bảo trợ bởi Italian-Thai Development Co., Ltd và Asia Corp Holdings Ltd. và chánh phủ Lào.
8/ Đập Lat Sua, Lào, 800 MW; bảo trợ bởi Charoen Energy and Water Asia Co. Ltd. /Thái Lan và chánh phủ Lào.
9/ Đập Don Sahong 360 MW, tỉnh Champasak, Lào: được bảo trợ bởi công ty Mã Lai Mega First Berhad Co.
10/ Đập Stung Treng, Cam Bốt, 980 MW; bảo trợ bởi chánh phủ Nga
11/ Đập Sambor, Cam Bốt; bảo trợ bởi công ty “Trung Quốc”/ China Southern Power Grid Co. / CSGP.
Bắc Kinh đã sở hữu 14 con đập bậc thềm Vân Nam hoàn toàn trong lãnh thổ Trung Quốc, nay lại có mặt thêm nơi 4 / 11 dự án thuộc khu vực Hạ Lưu, đó là các con đập Pak Beng, Pak Lay, Xanakham, Sambor.
Riêng Việt Nam (Petrovietnam Power Co.) thì bảo trợ cho dự án đập Luang Prabang 1410 MW. Do chỉ thấy lợi lộc ngắn hạn, với chọn lựa theo “tiêu chuẩn nước đôi / double standard”, Hà Nội sẽ chẳng thể còn kêu ca được gì trước Liên Hiệp Quốc khi nói về tác hại của chuỗi đập Mekong đối với Việt Nam.

HÃY CỨU SÔNG MEKONG

Khi mà những lượng giá chi tiết về xã hội và môi sinh của từng con đập không được công khai hoá, thì đã có nhiều tổ chức và các nhà hoạt động môi sinh nêu rõ những tác hại nghiêm trọng và lâu dài trên hàng triệu cư dân sống bằng nguồn nước nguồn cá của dòng sông Mekong.
Vào tháng 5/2007 hơn 30 nhà khoa học đã cùng một lúc gửi giác thư lên các chánh phủ thuộc lưu vực và Ủy Hội Sông Mekong lưu tâm tới những sự kiện khoa học hiển nhiên về ảnh hưởng tác hại trên ngư nghiệp của con đập Don Sahong ở tỉnh Champasak, Lào. Tương tự như vậy, con đập Sambor, Căm Bốt sẽ chặn cá từ Biển Hồ di chuyển lên thượng nguồn, tác hại nghiêm trọng tới nguồn cá của Căm Bốt, chiếm tới 12% tổng sản lượng quốc gia - GDP.
Kết quả nghiên cứu 2004 của Ủy Hội Sông Mekong đã nhận định việc xây đập cho nhu cầu thủy điện đã coi nhẹ tương lai nguồn cá và ngư nghiệp của sông Mekong. Trái với những rêu rao của các tập đoàn tư bản xây đập cho rằng nếu điều hợp tốt thì có thể giảm thiểu hậu quả tiêu cực từ những con đập nhưng đã không có một biện pháp nào có thể giảm thiểu tác hại trên nguồn cá.
Ủy Hội đã rất thụ động trước sự tái phục hoạt của các dự án đập thủy điện lớn đe dọa tới toàn hệ sinh thái. Không những thế, Ủy Hội đã không có thông báo gì cho cư dân ven sông mối hiểm nguy của những con đập lớn hạ lưu, kể cả tránh phổ biến những tin tức bất lợi với hậu quả tiêu cực của các dự án đập. Với sự bất lực ấy, người ta tự hỏi về tương lai và vai trò tổ chức này có còn hữu ích gì không trong tiến trình bảo vệ dòng Sông Mekong?
Các nhà hoạt động môi sinh kêu gọi tinh thần trách nhiệm cũng như sự trong sáng trong tổ chức liên chánh phủ này. “Ủy Hội cần chứng tỏ là một tổ chức hữu ích cho quần chúng, chứ không phải là cho các nhà đầu tư,” Surichai Wankaew, giám đốc Viện Nghiên Cứu Xã Hội, Đại học Chulalongkorn, nói tiếp, ông mong muốn nhiệm vụ Ủy Hội thay đổi, thay vì “tạo thuận / facilitation” cho việc xây đập, thì nay phải là “diễn đàn / platform” cho cư dân bị ảnh hưởng nói lên mối quan tâm của họ. Cũng trước đó một ngày, đã có hơn 200 tổ chức môi sinh từ 30 quốc gia yêu cầu Ủy Hội và các nhà tài trợ ngưng ngay các dự án xây đập.
Tuy nhiên, Suchart Sirichan Sakul, là thành viên Ủy Hội Quốc gia Mekong Thái Lan lập luận rằng Ủy Hội không có thẩm quyền để cấm hay cho phép xây các con đập. Ông nói tiếp: “Tôi sợ rằng các tổ chức phi chánh phủ đã hiểu lầm về sự kiện rằng chúng tôi chỉ là một tổ chức tham vấn nên không có quyền “nói có hay không” với bất cứ một dự án xây đập nào. Các nhà hoạt động môi sinh nên nhắm vào chánh phủ của chính quốc gia có dự án xây đập.
Thêm kháng thư gửi Ủy Hội Sông Mekong và các Cơ quan Tài trợ nhân cuộc họp tại Siem Reap vào ngày 15/11/2007: “Chúng tôi, những nhóm công dân viết lá thư này để bày tỏ mối quan tâm về sự tái phục hoạt các chương trình xây đập trong vùng Hạ lưu sông Mekong, cùng với sự bất lực của Ủy Hội thực hiện Thỏa Ước Mekong 1995 trong tình hình nghiêm trọng hiện nay. Chúng tôi được biết các chánh phủ Thái, Lào và Căm Bốt đã cho phép các công ty Thái Lan, Mã Lai và Trung Quốc – lại vẫn Trung Quốc, thực hiện các cuộc khảo sát về tính khả thi 6 con đập thủy điện lớn vùng Hạ lưu sông Mekong. Đây cũng chính là 6 địa điểm đã được các cơ quan tham vấn của Canada và Pháp đề xuất từ 1994, nhưng kế hoạch lúc đó đã không được tiến hành vì bị cho là quá tốn kém và gây hủy hoại môi sinh nghiêm trọng. Trong cuộc hội thảo kỹ thuật lần thứ 6 của Ủy Hội năm 2003 về cá trên sông Mekong, các chuyên gia đã đưa tới kết luận rằng “bất cứ con đập nào trên dòng chính sông Mekong cũng tàn hại trên nguồn cá và vị trí con đập Sambor có thể coi là tệ hại nhất.”
Lẽ ra Ủy Hội có thể lên tiếng khuyến cáo ngăn chặn các dự án xây đập của các quốc gia ven sông nhưng họ thì vẫn cứ im lặng một cách đáng ngạc nhiên. Những cuộc khảo sát của các công ty Thái Lan, Mã Lai và Trung Quốc bao giờ cũng nói tới những lợi lộc của các con đập nhưng lại rất ít quan tâm tới ảnh hưởng lâu dài trên sinh cảnh môi trường và trước mắt là hàng bao nhiêu chục ngàn cư dân ven sông sẽ phải di dời tới một nơi và một tương lai vô định.
Mekong là một con Sông Quốc Tế, với nguồn tài nguyên mà tất cả các quốc gia ven sông đều có quyền cùng chia sẻ chứ không chỉ để phục vụ cho các nhóm tài phiệt hay một quốc gia riêng lẻ nào.
Khi mà không một quốc gia nào còn có quyền phủ quyết theo điều lệ mới của Ủy Hội Sông Mekong 1995, người ta có thể thấy trước được là trong thực tế sẽ vẫn mạnh ai nấy làm và Ủy Hội Sông Mekong chưa hề là một tổ chức đoàn kết có tầm vóc để được coi là đối trọng trong các cuộc tranh chấp với các tập đoàn tư bản và nhất là với nước lớn Trung Quốc.

MỘT THOÁNG ÔN CỐ TRI TÂN

Nhìn lại hơn nửa thế kỷ từ ngày thành lập Ủy Ban Sông Mekong, cũng là thời điểm đánh dấu con sông Mekong trước dồn dập những nguy cơ. Trên trang Web WWF / World Wide Fund for Nature, đã ghi nhận: Mực nước con sông Mekong tụt thấp xuống tới mức báo động kể từ 2004 và trở thành những hàng tin trang nhất trên báo chí. “Trung Quốc làm kiệt mạch sống sông Mekong - New Scientist”; “Sông Mekong cạn dòng vì các con đập Trung Quốc - Reuters AlertNet”; “Xây đập và con sông chết dần - The Guardian”; “Sông cạn do các con đập Trung Quốc - Bangkok Post”. Hầu hết đều mạnh mẽ quy trách nhiệm cho việc xây các con đập thủy điện của Trung Quốc trên khúc sông thượng nguồn. Và cũng chính WWF đặt câu hỏi: Thế nhưng bức tranh toàn cảnh ra sao, từ ngày khai sinh ra tổ chức Ủy Ban Sông Mekong ?

ỦY BAN SÔNG MEKONG

Năm 1957, giữa thời kỳ chiến tranh lạnh, với bảo trợ của Liên Hiệp Quốc, một Ủy Ban Sông Mekong (Mekong River Committee) được thành lập bao gồm 4 nước Thái, Lào, Căm Bốt và Nam Việt Nam, với kế hoạch đầy tham vọng phát triển toàn diện vùng Hạ Lưu sông Mekong nhằm cải thiện cuộc sống cho toàn thể cư dân sống trong lưu vực.
Cho dù có một nửa chiều dài sông Mekong chảy qua Vân Nam nhưng Trung Quốc lúc đó dưới thời Mao Trạch Đông đang là một quốc gia toàn trị và hoàn toàn khép kín nên không được nhắc tới.
Trước xa Trung Quốc, Ủy Ban Sông Mekong đã có “viễn kiến” đánh giá được tiềm năng thủy điện vô cùng phong phú của con sông nên đã phác thảo kế hoạch xây những đập thủy điện lớn trên dòng chính nơi vùng hạ lưu và đã có các dự án được coi là ưu tiên lúc đó:
- Dự án Pa Mong: cách Vạn tượng 15 dặm và là đập chứa nước chính của hệ thống đập sông Mekong, sẽ kiểm soát lưu lượng toàn con sông ra tới biển Đông. Cung cấp nguồn điện khoảng 2000 MW với hồ nước có chiều dài 210 dặm sẽ dìm sâu một vùng đất đai nhà cửa của khoảng 60000 dân cư phải di rời, nhưng sẽ cải thiện thủy lộ, nâng cao mức sống và phát triển của toàn miền đông bắc Thái.
- Dự án Sambor: cách Nam Vang 140 dặm về phía bắc, trong lãnh thổ Căm Bốt. Công trình sẽ khiến mức nước dâng cao, làm ngập suốt 50 dặm ghềnh thác và mở ra triển vọng giao thông đường sông giữa hai nước Lào và Căm Bốt, công suất lên tới 1000 MW, đủ cung cấp cho nhu cầu kỹ nghệ và dân dụng, đồng thời dùng cho việc bơm tưới các vùng đất đai canh tác thuộc Căm Bốt và Nam Việt Nam.
- Dự án Tonle Sap: là một đập chắn cửa vào Biển Hồ, như một hồ chứa thiên nhiên của con sông Mekong. Cửa đập sẽ mở ra trong mùa lũ để nước chảy ngược vào Biển Hồ tới mức dự trữ cao nhất và sẽ giảm thiểu lũ lụt. Trong mùa khô, cửa đập sẽ lại được mở ra từng phần, duy trì mức sông sâu cho tàu biển vẫn có thể ra vào sông Mekong và đồng thời giảm thiểu lượng nước mặn xâm nhập vào đồng bằng sông Cửu Long, từ đó có thể khai thác thêm các vùng đất đất bỏ hoang vì muối phèn, hạn hán hay lũ lụt. Với mực nước được giữ cao hơn trong mùa nước thấp, sẽ có hiệu quả làm gia tăng lượng cá trong Biển Hồ đang bị sa sút trầm trọng mà cá là nguồn protein chính cho người dân Căm Bốt.
Còn một số địa điểm khác cũng được Ủy Ban Sông Mekong nghiên cứu cho những con đập khác như: Pak Beng, Pak Lay, Luang Prabang, Bang Kan, Thakhek, Pakse ở Nam Lào; Stung Treng ở Căm Bốt...

NHỮNG QUYỀN LỢI MÂU THUẪN

Khi mà mỗi kế hoạch đã ẩn chứa những mâu thuẫn về quyền lợi giữa các nước thành viên, nếu chỉ đứng trên quan điểm quốc gia hạn hẹp.
Một ví dụ liên quan tới dự án Pa Mong rất được Thái nhiệt tình cổ võ không chỉ do tiềm năng thủy điện lớn lao cung cấp cho kỹ nghệ và dân dụng mà còn do kế hoạch bơm tưới cho cả một vùng đông bắc Thái rộng lớn khô cằn với dân cư chiếm tới 2/5 tổng số dân Thái. Nhưng còn hậu quả môi sinh của Pa Mong đối với hai nước hạ nguồn Căm Bốt và Việt Nam ra sao thì đó lại không phải là mối quan tâm của Thái !
Ví dụ thứ hai, dự án Tonle Sap và Sambor rất được Việt Nam quan tâm, ngoài mục đích sản xuất điện, hai hồ chứa này có khả năng điều hòa mực nước hai mùa lũ lụt và khô hạn đồng thời ngăn chặn nước mặn từ biển lấn sâu vào vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhưng 2 dự án ấy đã bị Căm Bốt nghi kỵ bắt nguồn từ ám ảnh lịch sử vốn thiếu thân thiện giữa hai nước. Căm Bốt đã không coi vấn đề tăng lượng cá trong Biển Hồ và ngăn lũ là quan trọng nên đã tỏ ý không hợp tác.
Nhưng rồi từ thập niên 60 do cuộc chiến tranh Việt Nam lan ra cả 3 nước Đông Dương nên kế hoạch xây dựng các đập thủy điện lớn vùng Hạ Lưu của Ủy Ban Sông Mekong đã phải gián đoạn và con sông Mekong còn giữ được vẻ hoang dã thêm một thời gian nữa.
Trong khi đó “rất âm thầm nhưng với quyết tâm” từ phía bắc bên Trung Quốc đã mau chóng hình thành những kế hoạch “vĩ mô” khai thác nguồn thủy điện sông Mekong với dự án 7 con đập lớn sau tăng lên 14 con đập bậc thềm khổng lồ Vân Nam (Mekong Cascades) và đã có 4 con đập hoàn tất ngay trong thập niên đầu của thế kỷ 21, để thấy rằng “Trung Quốc tuy đi sau nhưng đã sớm tới trước”.

ỦY BAN MEKONG LÂM THỜI

Chiến Tranh Việt Nam chấm dứt năm 1975, nhưng vẫn còn một cuộc chiến diệt chủng của Khmer Đỏ diễn ra trên Xứ Chùa Tháp. Không có Căm Bốt, chỉ còn một Ủy Ban Mekong Lâm Thời (IMC/ Interim Mekong Committee) với hoạt động hạn chế.
Cũng trong thời gian này, Thái Lan có 2 kế hoạch táo bạo [Kong-Chi-Mun và Kok-Ing-Nan] chuyển dòng sông Mekong đưa một lượng nước lớn vào nội địa Thái không chỉ nhằm “cứu hạn” cho những cánh đồng lúa mà còn tiếp nước cho hồ chứa con đập thủy điện mang tên hoàng hậu Sirikit quanh năm thiếu nước.
Đó là các dự án của riêng Thái, không có trong kế hoạch ban đầu của Ủy Ban Sông Mekong. Khi gặp sự chống đối của Việt Nam, Thái phủ nhận tính cách pháp lý của Ủy Ban Sông Mekong, viện lý do là tổ chức này đã không còn phù hợp với những thay đổi về chánh trị, kinh tế và xã hội trong vùng. Trong điều kiện phân hóa như vậy, Ủy Ban Mekong Lâm Thời hầu như bị tê liệt.

ỦY HỘI SÔNG MEKONG NHƯ MỘT XUỐNG CẤP

Bước vào thời bình do nhu cầu phát triển, sông Mekong đã trở thành mục tiêu khai thác của 6 quốc gia trong toàn Lưu Vực Lớn Sông Mekong. Cùng là những nước ven sông nhưng mỗi quốc gia lại có những ưu tiên về phát triển khác nhau với những quyền lợi mâu thuẫn. Do đó, phục hồi một tổ chức điều hợp liên quốc gia tương tự như Ủy Ban Sông Mekong trước đây là cần thiết.
Ngày 05 tháng 04 năm 1995, 4 nước hội viên gốc của Ủy Ban Sông Mekong đã họp tại Chiang Rai, bắc Thái cùng ký kết một “Hiệp Ước Hợp Tác Phát Triển Bền Vững Lưu Vực Sông Mekong” và đổi sang một tên mới là Ủy Hội Sông Mekong (Mekong River Commission), với một thay đổi cơ bản trong Hiệp Ước mới này – thay vì như trước đây theo điều lệ của Ủy Ban Sông Mekong, mỗi hội viên có “Quyền Phủ Quyết/ veto power” bất cứ dự án nào bị coi là có ảnh hưởng tác hại tới dòng chính sông Mekong – thì nay, không một thành viên nào có quyền phủ quyết và trong ngôn từ để chuẩn y các dự án thì rất mơ hồ như chỉ qua thông báo và tham khảo. Đại diện Việt Nam là Ngoại Trưởng Nguyễn Mạnh Cầm đã thiếu thận trọng khi đặt bút ký cho một Hiệp Ước có thể nói là “Không Bền Vững” này, để lại những di lụy cho Việt Nam vì là quốc gia cuối nguồn. Có thể nói Ủy Hội Sông Mekong là “biến thể và xuống cấp” của Ủy Ban Sông Mekong trước kia.
Mỗi quốc gia thành viên đều có một Ủy Ban Mekong Quốc Gia, và Ủy Ban Mekong Việt Nam có một địa chỉ rất nghịch lý: 23 phố Hàng Tre, Hà Nội nơi châu thổ Sông Hồng cách xa đồng bằng sông Cửu Long hơn 1600 km.
Khác với tham vọng chiến lược ban đầu của Ủy Ban Sông Mekong nay mục tiêu của Ủy Hội Sông Mekong có phần rất khiêm tốn và thu hẹp bao gồm: ba Chương Trình Nòng Cốt [Chương Trình Sử Dụng Nước, Chương Trình Phát Triển Lưu Vực; Chương Trình Môi Trường]; năm Chương Trình Khu Vực [Canh Nông, Thủy Lâm, Ngư nghiệp, Giao Thông, Du lịch]; và một Chương Trình Yểm Trợ. (1)
Ủy Hội Sông Mekong được bảo trợ bởi các tổ chức quốc tế và quốc gia, các viện nghiên cứu, và cả hội tư nhân và đón nhận được sự tài trợ lên tới 28 triệu đô la Mỹ năm 2000. Ủy Hội đã hoàn tất được vài thành quả ban đầu như đạt được thỏa thuận chia sẻ thông tin giữa 4 nước thành viên, thiết lập đưa vào sử dụng “mạng lưới internet” tiên đoán lũ lụt và theo dõi dòng chảy mùa khô và nhất là đạt được thỏa ước (04/ 2002) có thể gọi là lịch sử về trao đổi dữ kiện thủy văn [hydrological data exchange agreement] với Trung Quốc.

MỘT TRUNG QUỐC ĐI SAU NHƯNG VỀ TRƯỚC

Sau thời kỳ chiến tranh lạnh, Trung Quốc vẫn là một quốc gia toàn trị nhưng đã mở cửa ra với thế giới bên ngoài và vươn lên như một siêu cường.
Các dự án khai thác sông Mekong của Trung Quốc đã có từ thập niên 70. Mãi tới năm 1989, người ta mới được biết tới các dự án thủy điện qua một cuốn sách tiếng Hoa của nhà xuất bản Vân Nam Nhân Dân Thư Xã dày hơn 600 trang nhan đề “Lan Thương Giang: Tiểu Thái Dương / Lancang Jiang: Xiao Taiyang” gồm 45 bài viết về các đề tài khác nhau, nhưng tựu chung là chỉ đề cập tới những lợi lộc về thủy điện và nguồn nước của chuỗi những con đập trên sông Mekong tỉnh Vân Nam.
Do con sông Mekong từ Tây Tạng xuống Vân Nam chảy rất siết với rất nhiều ghềnh thác có nơi cao hơn 600 mét và được coi là lý tưởng cho việc xây cất một chuỗi những con đập khổng lồ, lại trên vùng thưa dân nên không phải tốn kém trong việc tái định cư các nạn nhân trong vùng xây đập.
Bản đồ những con đập trên dòng chính sông MekongNguồn: www.internationalrivers.org

Bản đồ những con đập trên dòng chính sông Mekong
Nguồn: www.internationalrivers.org

Vì thiếu ngân sách, nên mãi tới năm 1986, Trung Quốc bắt đầu xây con đập thủy điện lớn đầu tiên chắn ngang dòng chính sông Mekong: (1) Đập Mạn Loan / Manwan cao 126 m, công suất 1500 MW, hoàn tất 1993. Tiếp đến là con đập thứ hai (2) Đập Đại Chiếu Sơn / Daichaosan cao 118 m, công suất 1350 MW, hoàn tất 2003. Rồi con đập thứ ba (3)] Đập Cảnh Hồng / Jinghong cao 107 m 1350 MW, đã hoàn tất 2007. Và gây chấn động nhất mới đây là con đập thứ tư vừa hoàn tất (4): Con đập Mẹ Tiểu Loan / Xiaowan, như một tháp Eiffel 292 mét, cao nhất thế giới, với công suất 4200 MW. Từ mùa hè năm nay 2009, đập Tiểu Loan bắt đầu ào ạt lấy nước từ con sông Mekong vào hồ chứa dài 150 dặm, dự trù phát điện vào năm tới 2010. Đập Tiểu Loan có khả năng cung cấp điện cho tới các tỉnh duyên hải rất xa như Thượng Hải.
Song song với con đập Tiểu Loan, những dự án chuỗi đập lớn Vân Nam khác vẫn được mạnh mẽ triển khai. Đáng sợ nhất là con “khủng long” Nọa Trác Độ / Nuozhadu đang xây cất, dự trù hoàn tất năm 2014, với công suất 5500 MW, gấp 3 lần công suất đập Mạn Loan, với dung lượng hồ chứa 22740 Triệu mét khối / Million Cubic Meter, lớn hơn cả con đập Mẹ Tiểu Loan.

CHUỖI NHÂN TAI TỪ VÂN NAM

Theo Fred Pearce, vào đầu thập niên tới, chuỗi đập Vân Nam sẽ có khả năng giữ lại hơn nửa lưu lượng dòng chảy của con sông Mekong trước khi ra khỏi lãnh thổ Trung Quốc. Đối với Bắc Kinh, con sông Mekong đã trở thành “Tháp Nước và Nhà Máy Điện” của riêng họ.(10)
Với hậu quả là nhịp độ “hai mùa khô lũ có từ ngàn năm” của con sông Mekong vốn dũng mãnh sẽ không còn nữa, cái quyền “hô phong hoán vũ” ấy nay đã nằm trong tay các công trình sư Đại Hán điều khiển giàn turbines của các con đập Vân Nam.
Vào tháng 05/2009, Chương Trình Môi Sinh Liên Hiệp Quốc đã phải lên tiếng cảnh báo rằng “chuỗi đập Vân Nam” là “mối đe dọa duy nhất – lớn nhất / the single greatest threat” đối với tương lai và sự phồn vinh của con sông Mekong, sẽ giết chết nhịp đập thiên nhiên của dòng sông vốn như một kỳ quan của thế giới.
Aviva Imhoff, giám đốc truyền thông Mạng Lưới Sông Quốc Tế / IRN đưa ra nhận định: Trung Quốc đang hành xử một cách hết sức vô trách nhiệm. Chuỗi đập Vân Nam sẽ gây ra những tác hại vô lường nơi hạ lưu, gây rối loạn toàn hệ sinh thái con sông Mekong xa xuống tới Biển Hồ, nó như một chuông báo tử cho ngư nghiệp và nguồn cá vốn là thực phẩm của hơn 60 triệu cư dân sống ven sông.
Để độc giả có một ý niệm về tầm vóc của chuỗi đập bậc thềm Vân Nam, ta hãy so sánh với một công trình khác được coi là “rất vĩ đại” của Mỹ: TVA (Tennessee Valley Authority) với hệ thống các đập thủy điện trên con sông Tennessee. Số con đập Vân Nam là 14 trong khi TVA chỉ có 9. Độ dốc của của chuỗi đập Vân Nam là 1500 m, 12 lần cao hơn chuỗi đập TVA; tổng công suất chuỗi đập Vân Nam gấp 13 lần tổng công suất TVA. Như vậy đối chiếu với chuỗi đập Vân Nam thì đại công trình TVA nổi tiếng là vĩ đại bấy lâu của Mỹ nay đã trở thành một bóng mờ. [H.2]
Có dịp đến thăm đập Hoover trên sông Colorado gần Las Vegas, con đập tưởng như vĩ đại cao 221 mét, công suất 2080 MW, nhưng thực ra chỉ lớn hơn con đập Mạn Loan 1500 MW và chưa bằng nửa công suất của con đập Tiểu Loan 4200 MW. Do Mỹ đã tận dụng nước khúc thượng nguồn nên con sông Colorado đã cạn dòng không còn nước để ra tới biển, gây thảm cảnh cho bao nhiêu triệu cư dân Mễ sống nơi cuối nguồn. Phải chăng, đó cũng là tương lai của đồng bằng sông Cửu Long, sông sẽ cạn dòng để thay thế bằng ngập mặn và rồi ra không có một giống lúa hay cây trái nào sống sót được trong biển nước mặn ấy.
Bác Sĩ Ngô Thế Vinh bên chân đập Mạn Loan (02/2002)Ảnh : do tác giả cung cấp

Bác Sĩ Ngô Thế Vinh bên chân đập Mạn Loan (02/2002)
Ảnh : do tác giả cung cấp

Rõ ràng trong mấy thập niên vừa qua, Trung Quốc đã không chỉ ào ạt xây thêm và xây thêm nữa những con đập thủy điện khổng lồ chắn ngang dòng chính sông Mekong, mà còn thực hiện kế hoạch phá đá và khai thông các khúc sông ghềnh thác để mở thủy lộ cho các con tàu 700 tấn đi về phương Nam và bất chấp hậu quả dùng sông Mekong làm con đường vận chuyển dầu khí từ giang cảng Chiang Rai lên Vân Nam.(2)
Tất cả đã và đang gây ảnh hưởng tích lũy tới nguồn nước là cá, nguồn phù sa là lúa gạo và cả gây ô nhiễm nghiêm trọng cho các quốc gia hạ nguồn. Đó là chưa kể tới nguy cơ vỡ đập do Vân Nam là vùng động đất.
Không chỉ đơn giản vì “thiếu mưa”, sự kiện sông Mekong cạn dòng với mực nước đột ngột tụt thấp xuống nơi vùng hạ lưu xuống xa tới tận Biển Hồ năm 1993 và 2003 mà không vào mùa khô, trùng hợp với thời điểm Trung Quốc bắt đầu lấy nước vào hồ chứa của 2 đập thủy điện Mạn Loan và Đại Chiếu Sơn trên Vân Nam.
Rồi vào nửa năm đầu 2004, mực nước đã xuống thấp hơn nữa trong toàn Vùng Hạ Lưu, không phải chỉ ở Thái Lan, Lào mà cả ở Căm Bốt và đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam.
Odd Bootha, 38 tuổi, anh lái đò bến Chiang Khong bắc Thái, đã than thở, “Nếu Trung Quốc cứ xây thêm đập thì sông Mekong chỉ còn là một con lạch.” Tình cảm bài Hoa rất mạnh ở vùng bắc Thái, chính dân làng đã công khai chống lại kế hoạch phá đá phá ghềnh thác khai thông sông Mekong của Trung Quốc.
Với Căm Bốt, ai cũng biết rằng trái tim Biển Hồ chỉ còn nhịp đập khi sông Mekong còn đủ nước chảy ngược vào Biển Hồ trong mùa lũ, như một bảo đảm cho nguồn cá và vựa lúa của người dân xứ Chùa Tháp. Và chưa hề có bảo đảm nào cho một tương lai như vậy nếu không muốn nói là đã có những dấu hiệu xấu về một Biển Hồ đang chết dần.
Cũng vẫn theo Fred Pearce, tác giả cuốn sách “Khi Những Con Sông Cạn Dòng, Nước – Khủng Hoảng của Thế Kỷ 21” xuất bản 2006, trong chương sách viết về con sông Mekong đã có ghi nhận:
“... Cuối năm 2003 và đầu năm 2004 là thời gian tuyệt vọng trên Biển Hồ. Cơn lũ mùa hè thấp hơn. Thời điểm con sông Tonle Sap chảy ngược vào Biển Hồ đến trễ hơn và cũng chấm dứt sớm hơn. Thay vì 5 tháng con sông đổi dòng nay chỉ còn có 3 tháng. Rừng lũ / flooded forest thiếu ngập lũ và cá thì không đủ thời gian để tăng trưởng... Và mùa thu hoạch cá chưa bao giờ thấp như vậy. Tại sao ? Đa số ngư dân đổ tại con sông cạn dòng. Khi con nước cạn trước hoàng cung, thì sẽ không có cá dưới sông.”(3)
Cũng dễ hiểu là để có đủ nước vận hành những turbines trong các đập thủy điện Vân Nam, Trung Quốc đã thường xuyên đóng các cửa đập khiến mực nước sông đã xuống tới mức thấp nhất. Phía tả ngạn bên Lào, chỉ riêng trong tháng 3/2004, tổ chức du lịch đã phải hủy bỏ 10 chuyến du ngoạn trên sông chỉ vì những khúc sông quá cạn. Chainarong Sretthachau, giám đốc Mạng Lưới Sông Đông Nam Á cho rằng “Trung Quốc đã có quyền lực để kiểm soát dòng sông Mekong.”
Sự chối từ của Trung Quốc tham gia vào Ủy Hội Sông Mekong khiến tổ chức này trở nên vô nghĩa trong nỗ lực điều hợp khai thác và phát triển bền vững nguồn tài nguyên của con sông Mekong.

CƠN KHÁT NĂNG LƯỢNG CỦA TRUNG QUỐC

Thực hiện thông điệp của Đặng Tiểu Bình “Chỉ Có Một Lựa Chọn: Sự Phát Triển”, Bắc Kinh đã chọn con đường phát triển bằng mọi giá, bất kể hậu quả môi sinh ra sao ngay cả trong đất nước Trung Quốc kể gì tới các quốc gia hạ nguồn. Do nhu cầu điện năng gia tăng 5-6% mỗi năm, để đáp ứng tốc độ phát triển kinh tế nhảy vọt, trước viễn tượng nguồn dầu khí ngày càng cạn kiệt, Trung Quốc ngoài việc gia tăng tốc độ xây thêm các lò điện nguyên tử, từ 1 tới 2 lò mới mỗi năm (National Geographic, Aug 2005). Đi xa hơn nữa, nếu không gặp sự chống đối mạnh mẽ từ các nhà lập pháp Mỹ, Công Ty Dầu Khí Ngoài Khơi Nhà Nước Trung Quốc CNOOC đã thành công mua đứt Unocal, công ty dầu khí lớn thứ hai của Mỹ với 18.5 tỉ Mỹ kim để sở hữu nguồn dầu khí chiến lược và cả khống chế quyền khai thác các túi dầu trên toàn Biển Đông. [NY Times, Aug 3, 2005].
Với khát vọng vô hạn về năng lượng, rõ ràng không có dấu hiệu nào và cũng là ảo tưởng nếu nghĩ rằng Trung Quốc sẽ dừng bước hay chậm lại các kế hoạch khai thác nguồn thủy điện vô cùng phong phú của con sông Mekong.
Nhận định về các kế hoạch khai thác sông Mekong của Trung Quốc, Tyson Roberts thuộc Viện Nghiên Cứu Nhiệt Đới Smithsonian [Mỹ] đã phát biểu: “Xây các đập thủy điện, khai thông thủy lộ, với tàu bè thương mại quá tải sẽ giết chết dòng sông... Các bước khai thác của Trung Quốc sẽ làm suy thoái hệ sinh thái, gây ô nhiễm tệ hại, khiến con sông Mekong đang chết dần, cũng giống như con sông Dương Tử và các con sông lớn khác của Hoa Lục.”
Như một điệp khúc, chỉ có tác dụng ru ngủ, Bắc Kinh lúc nào cũng khăng khăng với lập luận là ảnh hưởng chuỗi đập Vân Nam trên sông Mekong là không đáng kể và còn có lợi nữa. Các con đập sẽ tạo thuận cho “chu kỳ lũ hạn hàng năm”, khai thông dòng sông sẽ làm gia tăng trao đổi thương mại trong vùng và giúp giảm nghèo.
Nhưng cũng công bằng mà nói, không phải tất cả suy thoái của con sông Mekong là đến từ Trung Quốc. Cũng phải kể tới phần ảnh hưởng phụ cộng thêm vào từ những con đập phụ lưu của Thái, Lào và Việt Nam, và mới đây là kế hoạch phục hoạt xây thêm 11 con đập lớn chắn ngang dòng chính sông Mekong dưới Hạ Lưu, chắc chắn sẽ càng làm suy thoái trầm trọng thêm toàn hệ sinh thái và giết chết dòng sông Mekong cũng là mạch sống của đồng bằng sông Cửu Long.
Sự thịnh vượng cho Lưu Vực là điều hứa hẹn nhưng chưa tới, và đã tới những hậu quả nhãn tiền do các bước khai thác tự hủy và thiếu trách nhiệm của Trung Quốc đối với nguồn tài nguyên sông Mekong, vốn là một con sông quốc tế, gây ảnh hưởng tác hại trực tiếp tới 70 triệu dân cư sống ven sông.

BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ HÂM NÓNG TOÀN CẦU

Tổ chức WWF đã đưa ra lời cảnh báo khối băng tuyết trên rặng Hy Mã Lạp Sơn, vốn là nguồn nước cho 7 con sông lớn của châu Á (sông Mekong, Salween, Dương Tử, Hoàng Hà và con sông Hằng, Indus, Brahmaputra), do hiện tượng hâm nóng toàn cầu, nay đang bị co lại với vận tốc từ 10 tới 15 mét / năm, do gia tăng tốc độ tuyết tan, với hậu quả ngắn hạn là làm tăng lưu lượng nước các dòng sông. Nhưng theo Jennifer Morgan, giám đốc Chương Trình Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu (WWF for Nature’s Global Climate Change Programme), chỉ vài thập niên sau đó, tình hình sẽ đảo ngược với mực nước các con sông sẽ xuống rất thấp trong đó có con sông Mekong.(5)
WWF đã báo động tới nhóm các quốc gia kỹ nghệ G8 : “Thế giới sẽ phải đương đầu với thảm họa nếu mức độ hâm nóng toàn cầu không được giảm thiểu.” Tưởng cũng nên nhắc tới ở đây, siêu cường kỹ nghệ Hoa Kỳ dưới triều đại Bush là nước duy nhất trong số 155 quốc gia từ chối ký tên vào Nghị Định Thư Kyoto. Không phải chỉ có Trung Quốc, chính sách môi sinh thiển cận của tổng thống Bush trong một tương lai xa, cũng đã góp phần khiến những con sông thêm cạn dòng.

GIẢI PHÁP NGẮN HẠN ĐỂ SỐNG CÒN

Với Việt Nam, trong cuộc phỏng vấn của phóng viên Ánh Nguyệt / RFI [12/2004] khi được hỏi về tình trạng nhiễm mặn ngày càng trầm trọng nơi đồng bằng sông Cửu Long từ ngày Trung Quốc không ngừng tiến hành xây những con đập khổng lồ Vân Nam, giáo sư Võ Tòng Xuân, từng là trưởng Khoa Nông Học Đại Học Cần Thơ, một tên tuổi được gắn liền với giống lúa cao sản Thần Nông, nguyên viện trưởng Đại Học An Giang, đã phát biểu: “Nông dân đồng bằng sông Cửu Long thích nghi nhanh, chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, bỏ hẳn giống lúa cổ truyền, chuyển sang trồng lúa cao sản, nên chủ động tránh được lũ cũng như hạn hán. Ở những vùng bị nhiễm mặn, thay vì trồng lúa thì chuyển qua những loại cây khác hay chuyển qua sản xuất nuôi tôm xú chịu được nước lợ, rồi phong trào nuôi cua biển đang phát triển mạnh, người nông dân sẽ dùng nguồn nước mặn này để nuôi thủy sản với giá thành cao hơn là trồng lúa.
Hiện nay, Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long đang vận dụng công nghệ sinh học, tìm những genes chịu mặn nhằm lai tạo những giống lúa cao sản tương đối chịu mặn hơn các giống lúa thường. Xa hơn nữa, Việt Nam đang cùng với nhóm MEREM / Mekong Resources Economic Management, do Nhật Bản tài trợ, nhằm nghiên cứu những thay đổi môi trường nước cũng như của đa dạng sinh học trên sông Mekong, để từ đó có thể khuyên cáo những chánh phủ liên hệ nên sử dụng nguồn nước sao cho an toàn hơn.”

THÁCH ĐỐ CỦA THẾ KỶ 21

Vẫn không có câu trả lời ai sẽ thực sự trách nhiệm “duy trì dòng chảy tối thiểu” của con sông Mekong trong mùa khô cũng như mùa lũ để có dòng chảy ngược từ con sông Mekong vào Biển Hồ, để nước mặn từ ngoài biển Đông không tiếp tục lấn vào sâu và xa hơn nữa nơi đồng bằng sông Cửu Long ?
Hình ảnh ước lệ của hơn nửa thế kỷ trước về một đồng bằng sông Cửu Long, với ruộng vườn thẳng cánh cò bay, tôm cá đầy đồng, thì nay tất cả đã đi vào quá khứ. Gần đây có dịp trở lại viếng thăm, để chỉ thấy trên toàn cảnh là một đồng bằng sông Cửu Long đang suy thoái và cứ nghèo dần đi.
Nước ngày càng khan hiếm, với kinh nghiệm của người xưa “thượng nguồn tích thủy hạ nguồn khan” tưởng như là hiển nhiên nhưng vẫn cứ bị Bắc Kinh phủ nhận và cả các chánh phủ vùng Hạ Lưu xem nhẹ.
Rồi ra thời gian sẽ cho chúng ta “một bài học” nhưng sẽ là quá trễ nếu hệ sinh thái con sông Mekong đã suy thoái tới mức không còn có thể đảo nghịch. Rồi ra các thế tương lai sẽ chẳng bao giờ được biết tới những con cá Pla Beuk, cá Dolphin là những chủng loại quan trọng / flagship species, vì đó là biểu trưng cho sự trong lành của hệ sinh thái sông Mekong đang trên đà bị tiêu diệt.

TÌM MỘT NGỌN HẢI ĐĂNG CHO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Cho dù không có phương cách nào có thể ngăn Trung Quốc không tiến hành kế hoạch điện khí hóa vĩ đại của họ nhưng ở một chừng mực nào đó thì “những khiếm khuyết và thiếu an toàn trong mỗi dự án xây đập của Trung Quốc và nay thêm 11 con đập Hạ Lưu, phải được biết tới, để theo dõi và bổ sung.”
Điều ấy đòi hỏi cho một chiến lược bảo vệ môi sinh với “tầm nhìn xa”, với một đội ngũ chuyên viên không chỉ có trình độ mà còn có lòng thiết tha với công việc chuyên môn của họ.
Cách đây 39 năm trong bài diễn văn “xuất trường” của Viện Đại Học Cần Thơ (19/12/1970), Giáo sư Đỗ Bá Khê đã có một tầm nhìn rất xa về vai trò của Viện Đại Học này đối với tương lai vùng đồng bằng sông Cửu Long : “Trong thời đại khoa học kỹ thuật, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đang trông chờ nơi ánh sáng soi đường của Viện Đại Học Cần Thơ và ước mơ một chân trời mới, tô điểm bằng những cành lúa vàng nặng trĩu, những mảnh vườn hoa quả oằn cây, dân cư thơ thới, một cộng đồng trù phú trong một xã hội công bằng.”
Với con Sông Mekong đang cạn dòng, đồng bằng sông Cửu Long ngày thêm nhiễm mặn, thì vai trò “Ngọn Hải Đăng Trí Tuệ” của Đại Học Cần Thơ với Phân Khoa Sông Mekong chưa bao giờ cấp thiết đến như vậy. Đó sẽ là một “think tank”? một trung tâm nghiên cứu giảng dạy và là nguồn cung cấp chất xám không chỉ cho đồng bằng sông Cửu Long, mà cả cho toàn lưu vực sông Mekong. Với từng bước thực hiện:
- Xây dựng một thư viện chuyên ngành với tất cả sách vở tài liệu liên quan tới con sông Mekong.
- Thiết lập ban giảng huấn ngoài thành phần cơ hữu của nhà trường, sẽ bao gồm các chuyên gia của Ủy Hội Sông Mekong, nhóm Chuyên Viên Tham Vấn Quốc Tế bên cạnh Ủy Hội. Họ sẽ được mời như những giáo sư thỉnh giảng, cho Phân Khoa Sông Mekong. Tài liệu giảng của họ sẽ là nguồn thông tin vô cùng quý giá do từ những đúc kết qua thực tiễn.
- Tuyển sinh từ thành phần ưu tú biết ngoại ngữ, nhằm hướng tới đào tạo các kỹ sư môi sinh, ngoài phần lý thuyết họ sẽ được tiếp cận với thực tế bằng những chuyến du khảo qua các trọng điểm của con sông Mekong, qua các con đập, và không thể thiếu một thời gian thực tập tại các cơ sở của Ủy Hội Sông Mekong. Họ sẽ ra trường với một tiểu luận tốt nghiệp về những đề tài khác nhau liên quan tới hệ sinh thái của con sông Mekong.
- Về phương diện chánh quyền, cần thiết lập ngay một mạng lưới “Tùy Viên Môi Sinh” (Đã có những tùy viên quân sự, văn hóa trong mỗi tòa đại sứ, tại sao không thể có tùy viên môi sinh), đặc trách sông Mekong trong các tòa đại sứ và sứ quán tại các quốc gia trong lưu vực, như tòa lãnh sự Việt Nam ở Côn Minh Vân Nam, bốn tòa đại sứ Việt Nam ở Miến Điện, Thái Lan, Lào và Căm Bốt. Họ sẽ là tai mắt, là những trạm quan sát sống cho Phân Khoa sông Mekong và bộ Bảo Vệ Môi Trường.
Trước 1975, Thái Lan đã có Viện Y Khoa Nhiệt Đới Đông Nam Á, tại sao không thể nghĩ tới một Phân Khoa Sông Mekong tại Viện Đại Học Cần Thơ cho 6 quốc gia trong Lưu Vực Lớn Sông Mekong. Thành phần sinh viên không phải chỉ có Việt Nam mà có thể cả những sinh viên đến từ Thái Lan, Lào và Căm Bốt và cả từ Trung Quốc, Miến Điện.
Việc cấp học bổng cho các sinh viên đến từ các quốc gia trong lưu vực sẽ đến từ cấp Nhà Nước. Phải xem đây như một kế hoạch đầu tư dài hạn và rất ý nghĩa cho “Một Tinh Thần Sông Mekong” trong toàn bộ các kế hoạch hợp tác và phát triển vùng.
Với trình độ kiến thức và tinh thần liên đới của đám sinh viên đa quốc gia sẽ là nguồn chất xám bổ sung cho Ủy Hội Sông Mekong, cho các chánh phủ địa phương đang bị thiếu hụt nhân sự trầm trọng. Lớp chuyên viên trẻ đầy năng động này cũng sẽ là mẫu số chung nối kết mở đường cho các bước hợp tác phát triển bền vững của 6 quốc gia trong toàn lưu vực sông Mekong.
Dĩ nhiên, có một cái giá phải trả để bảo vệ con Sông Mekong và vùng đồng bằng sông Cửu Long. Với tâm niệm rằng “nói tới nguy cơ là còn thời gian, trong khi tiêu vong là mất đi vĩnh viễn”.
Ngô Thế Vinh
California, July 2009
Tham Khảo:
1/ Agreement on the Cooperation for the Sustainable Development of The Mekong River Basin, Chiang Rai, Thailand 05 Apr 1995
2/ Sparks fly as China moves oil up Mekong, Marwaan Macan-Makar, Bangkok 01-09-2007; IPS and Asia Times Online
3/ When The Rivers Run Dry, Water – The Defining Crisis of The Twenty First Century. Fred Pearce, Beacon Press, Boston, Massachusetts 2006
4/ Hiroshi Hori. The Mekong: Environment and Development. United Nations University Press, Tokyo 2000.
5/ Global Warming is causing Hymalayan glaciers retreat, threatening to cause water water shoratges, Geneva, Mar 14, 2005, [AFP]
6/ Progress In Water Management at the Mekong River Basin, MRC Presentation at Third WWF, INBO Official Session 20 Mar 2004
7/ Plan for Massive Dam On Mekong, Project likely to draw protests from neighbours, The Nation Bangkok Thailand, November 04, 2007
8/ Construction of a Major Hydroelectric Dam on the Mekong River in Thailand Could Have Grave Implication. Fergal Quinn and Lor Chandara, The Cambodia Daily November 7, 2007
9/ Mainstream Dams: An Engineer’s Dream, A Fisher’s Curse, Gary Lee
Watershed, Vol.12 No.3 November 2008
10/ The Damming of The Mekong: Major Blow to An Epic River,
Fred Pearce, Yale Environment 360 Jun 17, 2009
Ủy hội sông Mekong quốc tế nghiên cứu tác động của các đập thượng nguồn

Đập Tiểu Loan (Vân Nam, Trung Quốc) - Ảnh: Gzhgj

TT - Đây là thông tin mà ông Jeremy Bird, giám đốc ban thư ký Ủy hội sông Mekong quốc tế (MRC), cho biết xung quanh việc Trung Quốc xây đập ở thượng lưu sông này. Các gợi ý từ nghiên cứu sẽ được đưa vào thảo luận với các chính phủ khi đi đến thống nhất liệu có xây đập trên dòng chảy chính ở các khu vực hạ lưu của con sông hay không.Ông Jeremy nói:
- Việc xây đập ở dòng chảy chính của sông Mekong có tác động bao gồm thay đổi chế độ dòng chảy, chất lượng nước, việc di cư của các loài cá... Tuy nhiên, các đập thủy điện cũng có thể có tác động tích cực với người dân ở hạ lưu. Ví dụ trữ lượng nước để sản xuất điện ở đập Tiểu Loan và các đập khác trong hệ thống ở tỉnh Vân Nam sẽ điều tiết lượng nước.
http://www.internationalrivers.org/files/images/091.preview.jpgMực nước mùa khô sẽ tăng, giúp có thêm nước cho tưới tiêu và cung cấp nước cho đô thị, còn đỉnh lũ sẽ giảm xuống. Tính trung bình chỉ 16% nước sông Mekong đến từ Trung Quốc, vì thế các tác động này sẽ giảm dần khi xuống tới sông Tonle Sap và đồng bằng sông Cửu Long bởi từ đó các nhánh sông khác từ Lào, Thái Lan và VN sẽ làm chủ chế độ dòng chảy.Là một tổ chức khu vực được thành lập để hợp tác trong việc quản lý nguồn nước bền vững của bốn nước ở hạ lưu sông Mekong (Thái Lan, Lào, Campuchia, VN), MRC đã đánh giá quy mô và hậu quả của những thay đổi trên sông Mekong thông qua các hệ thống lập mô hình. MRC cũng đối thoại với Trung Quốc về các khía cạnh thực thi của những dự án xác định quy mô thay đổi dòng chảy.
Cuối năm nay, ủy ban sẽ công bố kết quả của những dự án này. Trong lúc đó chúng tôi sẽ tiếp tục thảo luận thường xuyên với các quan chức Trung Quốc, cũng như phối hợp với chính phủ nước này trong việc hợp tác kỹ thuật để bảo đảm các thay đổi ở hạ lưu sông do phát triển thủy điện gây ra sẽ được quản lý một cách phù hợp.
* Ông đánh giá thế nào về tác động của các đập nước ở hạ lưu sông Mekong?
- Các con đập ở hạ lưu (Lào và Campuchia), một yếu tố ít được biết đến và có lẽ ít nghiêm trọng hơn, cũng có tác động tới việc di cư của các loài cá và hậu quả với người dân sống nhờ đánh bắt cá. Hơn 60 triệu người ở hạ lưu sông Mekong phụ thuộc vào con sông để có thức ăn, đi lại và hoạt động kinh tế. Đánh bắt cá nước ngọt ở lưu vực sông Mekong mang lại 2 tỉ USD mỗi năm, là hoạt động đánh bắt cá trên bờ có giá trị nhất thế giới.
Nông dân ĐBSCL đã phải đối mặt với nước mặn xâm nhập. Trong ảnh: nông dân xã Tăng Hòa, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang cắt bỏ lúa bị khô cháy do nhiễm mặn, mang về cho trâu bò ăn - Ảnh: N.C.T80% lượng protein động vật của cư dân vùng Mekong là từ con sông này, và 70% lượng cá đánh bắt phục vụ thương mại là các loài cá di cư đường dài - đó là những loài cá có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi các con đập ở hạ lưu sông Mekong. Tất cả vấn đề này đều đang được nghiên cứu trong chương trình đánh giá môi trường chiến lược do MRC tiến hành. Các gợi ý từ nghiên cứu này sẽ được đưa vào thảo luận với các chính phủ khi họ đi đến thống nhất với nhau liệu có xây đập trên dòng chảy chính ở các khu vực hạ lưu của con sông hay không.
* Trung Quốc không phải là thành viên của MRC, vậy ủy hội có biện pháp gì để hài hòa các dự án phát triển liên quan tới con sông ở tất cả các nước, bao gồm bốn nước thành viên và Myanmar, Trung Quốc?
- Cơ chế hiện nay yêu cầu tất cả các nước thành viên MRC phải tham vấn nhau và đồng thuận về bất cứ hoạt động nào của con người hoặc về cơ sở hạ tầng trên dòng chảy chính của sông mà có thể ảnh hưởng tới dòng chảy ở hạ lưu. Các công trình sẽ không tiến hành nếu tất cả các nước chưa được tham vấn đầy đủ. Trung Quốc và Myanmar thật ra cũng nằm trong một quy trình rộng hơn, được gọi là các đối tác đối thoại của MRC, và chúng tôi đang tiếp tục tăng cường hợp tác và cùng hành động.
Vai trò của MRC là tạo ra sự hiểu biết một cách khoa học về con sông này và các tác động tiềm năng mà các hoạt động phát triển có thể gây ra cho sông, quan trọng hơn là cho người dân sống nhờ vào dòng sông. “Giải pháp” của chúng tôi là tiếp tục mở rộng vai trò này, chia sẻ thông tin với các bên liên quan (kể cả các tổ chức phi chính phủ, xã hội dân sự và khu vực tư nhân). Và bảo đảm là các quyết định chính phủ liên quan tới nguồn lực của sông Mekong được đưa ra trên cơ sở kiến thức cũng như hiểu biết khoa học.

Ông Jeremy nói:
- Việc xây đập ở dòng chảy chính của sông Mekong có tác động bao gồm thay đổi chế độ dòng chảy, chất lượng nước, việc di cư của các loài cá... Tuy nhiên, các đập thủy điện cũng có thể có tác động tích cực với người dân ở hạ lưu. Ví dụ trữ lượng nước để sản xuất điện ở đập Tiểu Loan và các đập khác trong hệ thống ở tỉnh Vân Nam sẽ điều tiết lượng nước.
Mực nước mùa khô sẽ tăng, giúp có thêm nước cho tưới tiêu và cung cấp nước cho đô thị, còn đỉnh lũ sẽ giảm xuống. Tính trung bình chỉ 16% nước sông Mekong đến từ Trung Quốc, vì thế các tác động này sẽ giảm dần khi xuống tới sông Tonle Sap và đồng bằng sông Cửu Long bởi từ đó các nhánh sông khác từ Lào, Thái Lan và VN sẽ làm chủ chế độ dòng chảy.
Là một tổ chức khu vực được thành lập để hợp tác trong việc quản lý nguồn nước bền vững của bốn nước ở hạ lưu sông Mekong (Thái Lan, Lào, Campuchia, VN), MRC đã đánh giá quy mô và hậu quả của những thay đổi trên sông Mekong thông qua các hệ thống lập mô hình. MRC cũng đối thoại với Trung Quốc về các khía cạnh thực thi của những dự án xác định quy mô thay đổi dòng chảy.
Cuối năm nay, ủy ban sẽ công bố kết quả của những dự án này. Trong lúc đó chúng tôi sẽ tiếp tục thảo luận thường xuyên với các quan chức Trung Quốc, cũng như phối hợp với chính phủ nước này trong việc hợp tác kỹ thuật để bảo đảm các thay đổi ở hạ lưu sông do phát triển thủy điện gây ra sẽ được quản lý một cách phù hợp.
* Ông đánh giá thế nào về tác động của các đập nước ở hạ lưu sông Mekong?
- Các con đập ở hạ lưu (Lào và Campuchia), một yếu tố ít được biết đến và có lẽ ít nghiêm trọng hơn, cũng có tác động tới việc di cư của các loài cá và hậu quả với người dân sống nhờ đánh bắt cá. Hơn 60 triệu người ở hạ lưu sông Mekong phụ thuộc vào con sông để có thức ăn, đi lại và hoạt động kinh tế. Đánh bắt cá nước ngọt ở lưu vực sông Mekong mang lại 2 tỉ USD mỗi năm, là hoạt động đánh bắt cá trên bờ có giá trị nhất thế giới.
Nông dân ĐBSCL đã phải đối mặt với nước mặn xâm nhập.

Nông dân ĐBSCL đã phải đối mặt với nước mặn xâm nhập. Trong ảnh: nông dân xã Tăng Hòa, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang cắt bỏ lúa bị khô cháy do nhiễm mặn, mang về cho trâu bò ăn - Ảnh: N.C.T.
80% lượng protein động vật của cư dân vùng Mekong là từ con sông này, và 70% lượng cá đánh bắt phục vụ thương mại là các loài cá di cư đường dài - đó là những loài cá có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi các con đập ở hạ lưu sông Mekong. Tất cả vấn đề này đều đang được nghiên cứu trong chương trình đánh giá môi trường chiến lược do MRC tiến hành. Các gợi ý từ nghiên cứu này sẽ được đưa vào thảo luận với các chính phủ khi họ đi đến thống nhất với nhau liệu có xây đập trên dòng chảy chính ở các khu vực hạ lưu của con sông hay không.
* Trung Quốc không phải là thành viên của MRC, vậy ủy hội có biện pháp gì để hài hòa các dự án phát triển liên quan tới con sông ở tất cả các nước, bao gồm bốn nước thành viên và Myanmar, Trung Quốc?
- Cơ chế hiện nay yêu cầu tất cả các nước thành viên MRC phải tham vấn nhau và đồng thuận về bất cứ hoạt động nào của con người hoặc về cơ sở hạ tầng trên dòng chảy chính của sông mà có thể ảnh hưởng tới dòng chảy ở hạ lưu. Các công trình sẽ không tiến hành nếu tất cả các nước chưa được tham vấn đầy đủ. Trung Quốc và Myanmar thật ra cũng nằm trong một quy trình rộng hơn, được gọi là các đối tác đối thoại của MRC, và chúng tôi đang tiếp tục tăng cường hợp tác và cùng hành động.
Vai trò của MRC là tạo ra sự hiểu biết một cách khoa học về con sông này và các tác động tiềm năng mà các hoạt động phát triển có thể gây ra cho sông, quan trọng hơn là cho người dân sống nhờ vào dòng sông. “Giải pháp” của chúng tôi là tiếp tục mở rộng vai trò này, chia sẻ thông tin với các bên liên quan (kể cả các tổ chức phi chính phủ, xã hội dân sự và khu vực tư nhân). Và bảo đảm là các quyết định chính phủ liên quan tới nguồn lực của sông Mekong được đưa ra trên cơ sở kiến thức cũng như hiểu biết khoa học.

Ông KỶ QUANG VINH vô cùng bức xúc:
- Trước đây những con đập có chiều cao 15m là đã khá lớn rồi. Nay con đập này cao tới 292m là không thể tưởng tượng nổi. Có thể đập này có tác dụng điều tiết nước phục vụ vài vùng khô hạn của Trung Quốc hoặc sau đó khai thác thủy điện, mở rộng diện tích sản xuất lương thực... Nhưng tác hại trước mắt có thể thấy rõ ngay chính tại vùng trên con đập là sẽ có một vùng đất rộng lớn bị ngập nước. Điều đó sẽ tạo ra biến đổi cả hệ sinh thái ở vùng này do phát sinh tình trạng yếm khí. Một số loài động thực vật sẽ gặp nguy hiểm, có thể biến mất, không loại trừ trong đó có cả những động thực vật quý hiếm.
* Sông Mekong sẽ bị ảnh hưởng như thế nào?
Ông Kỷ Quang Vinh - Ảnh: D.T.Hùng
- Thực tế sông Mekong đang bị cắt vụn ra, không chỉ do đập Tiểu Loan mà chạy dài về hạ lưu qua các nước Lào, Thái Lan và Campuchia. Chính phủ các nước này cũng đang có kế hoạch xây dựng 11 đập thủy điện trên dòng chảy chính của con sông. Những con đập đó sẽ ngăn cản các luồng cá di cư và gây xáo trộn lớn tới dòng sông, tạo ra nguy cơ cho hàng triệu người đang sống dựa vào nguồn thu nhập và thực phẩm do dòng sông đem lại.
Mặt khác, các công trình xây đập trên vùng thượng nguồn sông Mekong (Lan Thương) của Trung Quốc đã gây nên những vấn đề nghiêm trọng về môi trường cho khu vực hạ lưu như Myanmar, bắc Thái Lan và bắc Lào. Trữ lượng cá giảm sút và mực nước sông biến đổi không dự đoán được sẽ làm cuộc sống của người dân quanh vùng càng thêm khó khăn.
Sông Mekong chảy tự do đang sở hữu sự đa dạng vô cùng to lớn về thủy sinh vật, chỉ đứng sau sông Amazon. Sông Mekong là một trong những vựa cá nước ngọt giàu có nhất thế giới đang nuôi sống hơn 60 triệu người. Các ước tính chính thức về giá trị của dòng sông này là hơn 3 tỉ USD/năm. Tuy nhiên, con số to tát đó vẫn chưa nêu hết được giá trị thực, bởi vì vựa cá này là nơi tập trung nguồn dinh dưỡng chủ yếu và bảo đảm an toàn lương thực cho hàng chục triệu người.
Việc xây dựng hàng loạt con đập trên dòng chảy chính của sông Mekong sẽ làm các loài quý hiếm nhanh chóng tới bờ diệt chủng như: cá heo nước ngọt Irrawaddy, cá catfish khổng lồ Mekong và vô số loài cá di cư khác. Mất đi sự giàu có về sinh thái này sẽ là thảm họa mang tính toàn cầu.
* Cảm giác của ông như thế nào khi điều đó sẽ ảnh hưởng đến dòng sông Cửu Long của chúng ta?

Nông dân huyện Ngã Năm (Sóc Trăng) bơm nước ngọt cứu lúa vì nhiều cánh đồng bị nhiễm mặn - Ảnh: Duy Khang

- Tôi cảm thấy trăn trở và đau lòng. Sông Cửu Long cũng sẽ bị xáo trộn lớn về mặt sinh thái. Hằng năm vào mùa lũ, một lượng cá khổng lồ di cư về đây sinh sản, cùng với nguồn cá linh, cá sặt, các loại cá quý hiếm khác như cá hô, thờn bơn, thác lác, tôm càng, mè vinh... đổ về tạo nguồn sống cho cư dân hai bờ sông. Nay nếu đập xây lên thì đồng nghĩa với nguồn lợi thủy sản sẽ không còn. Ngoài ra còn có các nguồn thủy sinh, rong tảo, vi sinh vật, có khả năng điều hòa, cân bằng sinh thái sẽ bị sụt giảm nghiêm trọng.
Có thể ngay cả mùa lũ - mùa nước nổi đặc trưng của vùng ĐBSCL - cũng không còn, bởi vì nước có về nhiều nữa đâu mà còn mùa lũ.
* Nếu các con đập ở thượng lưu xây lên thì điều gì sẽ xảy ra cho ĐBSCL?
- Điều dễ thấy nhất sẽ là thiếu nguồn nước ngọt nghiêm trọng. Điều đó đã xảy ra vào mùa khô giữa tháng tư vừa qua và trong những năm tới sẽ còn tiếp tục gay gắt. Vào mùa lũ, lượng nước cũng đã sụt giảm chứ không dồi dào như nhiều người lầm tưởng. Thấy nhiều vậy chứ không còn bao nhiêu đâu. Kết quả đo nước hồi tháng 10-2008 cho thấy lưu lượng nước chỉ còn ở mức 28.000m3/s trong khi trước đây tới 40.000m3/s.
Vụ đông xuân 2009 vừa qua, lưu lượng nước trên sông Tiền và sông Hậu chỉ đạt mức 1.600m3/s, so với nhu cầu của 1,5 triệu ha lúa phải là 1.700m3/s. Vì vậy mà vụ lúa vừa rồi ta thấy ở một số vùng hạ lưu sông Cửu Long nông dân phải chạy vạy kiếm nước tưới ruộng rất khổ sở. Đặc biệt là những vùng duyên hải các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau... nước mặn xâm nhập sâu trong đất liền có nơi tới 70km.
Riêng ở thị xã Vị Thanh (Hậu Giang), lần đầu tiên trong lịch sử, người dân nội ô thị xã “nếm mùi” nước mặn 3-4 ngày liền, do nước mặn tràn vô mà ngành cấp nước không hay biết, cứ tưởng còn ngọt nên vẫn lấy nước mặt cung cấp.
Sông Mekong trải dài qua 6 nước
Lưu vực sông Mekong trải dài qua lãnh thổ sáu nước: Trung Quốc, Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia và VN. Với chiều dài 4.800km và diện tích 795.000km2, lưu vực sông Mekong rộng gần bằng nước Pháp và Đức cộng lại. Sông Mekong bắt nguồn trên vùng núi cao 5.000m của cao nguyên Tây Tạng. Vùng hạ lưu sông thuộc bốn nước Campuchia, Lào, Thái Lan và VN.
Trên lãnh thổ VN có năm vùng riêng biệt thuộc lưu vực sông Mekong gồm những diện tích rộng lớn thuộc đồng bằng sông Cửu Long, vùng Tây nguyên và những vùng đầu nguồn diện tích nhỏ tại Hướng Hóa (Quảng Trị), A Lưới (Thừa Thiên - Huế), Điện Biên, Lai Châu.
Nguồn: Ủy ban sông Mekong VN

Ông Ngô Đình Tuấn - Ảnh: K.H.Phải lo ngăn triều, trữ nước
GS.TS NGÔ ĐÌNH TUẤN, chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Tài nguyên nước và môi trường Đông Nam Á, cho biết:
- Từ những năm 1950 Trung Quốc đã tuyên bố chiến lược chuyển nước từ phía nam lên phía bắc và từ đó họ xây dựng nhiều đập ngăn nước trên sông Mekong. Các đập này ban đầu có thể phục vụ sản xuất điện nhưng theo nhiều chuyên gia, trong tương lai nó sẽ phục vụ việc chuyển nước từ sông Mekong sang lưu vực sông Trường Giang để từ đó đưa nước ngược lên phía bắc - khu vực vốn khan hiếm nước của Trung Quốc.
Cùng với Trung Quốc, các nước có sông Mekong chảy qua như Lào, Campuchia, Thái Lan cũng xây đập trên đoạn sông chảy qua lãnh thổ của họ. Ước tính sẽ có hơn 20 đập trên sông Mekong và điều này sẽ tác động rất lớn đến VN - nước ở phía dưới cùng của sông.
* Thưa ông, đó sẽ là những tác động như thế nào?
- Nếu Trung Quốc xây đập chỉ để phục vụ sản xuất điện thì bên cạnh tác hại cũng còn có mặt lợi đối với những nước ở hạ lưu như VN. Chẳng hạn nếu họ xây đập ngăn nước làm thủy điện thì về mùa lũ phía hạ lưu sẽ ít lũ, mùa cạn lượng nước hạ lưu tăng lên vì các hồ thủy điện phải xả nước. Nhưng mặt hại là việc xây dựng hàng loạt đập lớn ở thượng nguồn sẽ khiến hạ lưu giảm mất nguồn lợi thủy sản. Điều này chúng ta đã thấy qua những khảo sát gần đây với việc giảm đáng kể sản lượng cá tại đồng bằng sông Cửu Long.
Lẽ ra khi xây đập họ phải xây các luồng cho cá đi nhưng họ đã không làm như thế. Ngoài ra, xây dựng nhiều đập lớn phía thượng lưu cũng sẽ góp phần làm giảm lượng phù sa màu mỡ ở hạ lưu. Càng nhiều đập thì lượng bùn cát được lưu giữ lại trong lòng hồ càng nhiều, tức là lượng phù sa ở hạ lưu càng giảm mạnh. Phù sa ở hạ lưu giảm thì nước sẽ trong và lúc đó sẽ gây ra hiệu ứng làm xói mòn, sạt lở đất để cân bằng lại phù sa, điều đó rất nguy hiểm đối với các khu dân cư sống ở hạ lưu.
Trong trường hợp Trung Quốc xây đập ở thượng lưu để chuyển nước từ sông Mekong sang lưu vực khác nhằm đưa nước lên phía bắc thì lúc đó lượng nước đổ về hạ lưu sẽ cạn kiệt. điều đó sẽ cực kỳ nguy hại vì thiếu ăn còn chịu đựng được chứ thiếu nước thì không đơn giản.
* Cũng chính vì lo ngại những chuyện đó mà chúng ta thành lập Ủy ban sông Mekong VN để giải quyết vấn đề?
- Không chỉ Ủy ban sông Mekong VN mà cả Ủy hội sông Mekong quốc tế cũng có vai trò rất hạn hẹp. Mặc dù sông Mekong chảy qua sáu nước nhưng chỉ có bốn nước tham gia Ủy hội sông Mekong quốc tế là VN, Lào, Campuchia, Thái Lan. Hai nước Trung Quốc và Myanmar không tham gia ủy hội. Trung Quốc còn nói rằng họ không có sông quốc tế mà chỉ có sông quốc gia. Vì thế, sự đồng thuận của các nước trong khu vực không cao, chủ yếu là đồng thuận giữa bốn nước trong ủy hội và rất khó lấy các hiệp ước quốc tế để ràng buộc đối với một nước không tham gia ủy hội như Trung Quốc.
* Trong bối cảnh đó, VN cần làm gì để giảm thiểu tác động từ những hoạt động khai thác không hợp lý ở thượng nguồn sông Mekong?
- Trước hết, dù sao Ủy ban sông Mekong VN cũng góp phần ngăn chặn làm chậm đi những tác động tiêu cực đối với hạ lưu sông Mekong. Chúng ta phải chủ động cùng thế giới lên tiếng để quốc gia ở thượng nguồn không khai thác nước quá mức cho phép quy định. Tuy nhiên, việc xây đập làm thủy điện thì ta phải thừa nhận, còn việc chuyển nước sang các lưu vực khác làm cạn kiệt nguồn nước sông Mekong thì ta phải cực lực phản đối bởi nếu không tác hại sẽ rất lớn, nhất là khi phải chịu thêm tác động của biến đổi khí hậu.
Ngoài ra, chúng ta phải có một chiến lược quốc gia về vấn đề này. Tôi cho rằng chúng ta phải tính đến việc xây dựng các cửa cống ngăn triều tại cửa đổ ra biển Đông của chín con sông phân lưu của sông Mekong. Các cửa cống này khi nước sông cao thì xả ra biển, khi nước triều cao thì ngăn không cho tràn vào. Chúng ta cũng phải xây dựng các hồ sinh thái tích trữ nước cho mùa khô.
Đây là vấn đề phức tạp cần phải tính đến ngay từ bây giờ vì nói thì nghe có vẻ dễ nhưng đi vào cụ thể mới thấy sẽ có nhiều vướng mắc. Đó là chiến lược quan trọng Chính phủ cần tính đến và vấn đề sẽ đặt ra không chỉ đối với hạ lưu sông Mekong mà đối với cả hạ lưu sông Hồng bởi Trung Quốc cũng đã xây dựng đập trên thượng nguồn sông Hồng.

Quanh co như sông Mekonghttp://wm.hq.unu.edu/images/MekongMap.jpg
TT - Sông Mekong dài 4.800km, diện tích lưu vực 595.000km2, do phụ thuộc vào địa hình, địa chất và thủy thế nên chảy quanh co, uốn khúc qua sáu nước Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Các nước có dòng sông Mekong chảy qua đều có chiến lược, kế hoạch khai thác nguồn nước vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội.
Hoạt động hợp tác sông Mekong có từ cuối thập niên 1950 cho đến nay, trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm của lịch sử, thậm chí còn phụ thuộc vào thiện chí của các nước thành viên cho nên người ta nhận xét hoạt động này đôi khi quanh co như dòng sông Mekong!
Tuy nhiên, Mekong là con sông quốc tế, đòi hỏi có sự hợp tác, khai thác sử dụng nguồn tài nguyên vì quyền lợi chung của tất cả các quốc gia trong lưu vực. Hiệp định hợp tác Mekong giữa bốn nước hạ lưu Mekong bao gồm Thái Lan, Lào, Campuchia và VN năm 1995 (MRC) là cơ sở pháp lý để các nước ven sông cùng nhau xây dựng các chương trình chung như quy hoạch phát triển lưu vực (BDP), chương trình môi trường (EP), chương trình quản lý lũ giảm nhẹ thiên tai...
Riêng hai nước thượng lưu là Trung Quốc và Myanmar vì lý do riêng vẫn từ chối tham gia hoạt động của Ủy hội sông Mekong (MRC) nên thực tế vẫn chưa nhất trí được dòng chảy môi trường về mùa khô của cả lưu vực.
Thời gian gần đây, công luận cả trong và ngoài nước đều quan tâm, lo ngại về việc các nước ở thượng lưu Mekong tiến hành xây dựng các nhà máy thủy điện và đập dâng sẽ gây tác động đến dòng chảy và môi trường sinh thái. Người ta quan ngại nhất là Trung Quốc đang xây dựng tám đập thủy điện ở Lan Thương (thượng nguồn Mekong nằm trong tỉnh Vân Nam) có khả năng chứa hơn 23 tỉ m3 nước.
Trước đây, khi Trung Quốc hoàn thành hai đập thủy điện đầu tiên có quy mô vừa phải là Manwan và Dachaoshan cũng đã gây lo ngại cho các nước hạ lưu. Theo báo cáo ngày 21-5 của Liên Hiệp Quốc, việc Trung Quốc xây dựng một loạt đập lớn ở thượng lưu sông Mekong, trong đó mới hoàn thành đập thứ ba Tiểu Loan cao nhất thế giới 292m với công suất 4.200 MW, sẽ là mối đe dọa nghiêm trọng cho con sông vốn là nguồn nước trọng yếu nhất khu vực Đông Nam Á.
Chắc chắn các đập thủy điện sẽ gây thiệt hại cho các nước thượng lưu như mất đất làm hồ chứa, di chuyển dân cư, thay đổi môi trường. Tác hại lớn hơn cả là ảnh hưởng trực tiếp đến các nước hạ lưu như thay đổi chế độ dòng chảy, giảm lượng phù sa, ngăn cản luồng cá di cư, đảo lộn quá trình sinh sản, nhiều loài thủy sinh sẽ biến mất vì không thể thích ứng với môi trường sinh thái mới.
Điều đáng lo nhất là các nước hạ lưu không ai nắm được cụ thể quy trình vận hành các nhà máy thủy điện của các nước nằm ở thượng lưu. Theo tôi biết, phía Trung Quốc chỉ có thông báo một số thông tin từ hai trạm thủy văn về mùa lũ, không có số liệu về mùa khô cho nên muốn tính toán, kiểm tra lại quy trình vận hành là rất khó khăn, nan giải.
Mặc dù thiên nhiên đã ưu ái cho chúng ta một công trình điều tiết tự nhiên vô giá đó là Biển Hồ, nhưng theo tác động dây chuyền domino và sự khai thác sử dụng dòng sông Mekong ồ ạt cho mục đích phát điện và nông nghiệp ở các nước thượng lưu sẽ ảnh hưởng tác hại cả về số lượng và chất lượng nước của ĐBSCL.
Trong xu thế hội nhập của thế giới, việc khai thác sử dụng nguồn nước sông Mekong là quyền lợi chung của tất cả các nước trong lưu vực. Cần quan tâm, thúc đẩy việc xây dựng cơ sở pháp lý của hợp tác quốc tế trong việc khai thác sử dụng các lưu vực sông quốc tế và quảng bá các nguyên tắc này nhằm thiết lập một hệ thống quốc gia cho các hoạt động khai thác nguồn nước; theo dõi việc sử dụng nguồn nước sông quốc tế trong lãnh thổ VN cả về số lượng và chất lượng, cụ thể là hai trạm chính ở Tân Châu và Châu Đốc; quảng bá kinh nghiệm của VN trong các diễn đàn quốc tế nhằm nâng cao uy tín của VN trong việc giải quyết các vấn đề cần thương lượng.
Con sông Mekong có thể quanh co nhưng thái độ hợp tác của các nước ven sông phải rõ ràng vì quyền lợi chung của cả lưu vực. Ngoài việc tăng cường hợp tác hoạt động qua khuôn khổ bốn nước hạ lưu của MRC, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành của VN qua các chương trình hợp tác song phương và đặc biệt là Sáng kiến tiểu vùng Mekong mở rộng (GMS) có đầy đủ cả sáu thành viên Mekong.
Trong tương lai, thế giới sẽ phải đối phó với cuộc khủng hoảng về nước, không hẳn chỉ vì thiếu lượng nước để dùng mà còn vì chất lượng nước tồi tệ đến mức không sử dụng được. Ban đầu là con người không thể uống được, kế đến là không thể nuôi trồng thủy sản và tiếp nữa là không thể tưới tiêu.
Nếu không có các biện pháp đối phó thích hợp thì chẳng bao lâu câu ta thán nổi tiếng của người phương Tây “Water, water everywhere, not a drop to drink” (Nước, nước ở mọi nơi, nhưng không một giọt uống được) sẽ trở thành hiện thực ở vùng châu thổ sông Mekong!
TS TÔ VĂN TRƯỜNG

Đập Tiểu Loan đe dọa đồng bằng sông Cửu Long
http://www.vietnetcenter.com/tin_images/05-30-09/22A/tg_dtv3.jpgTTO - Một nghiên cứu của Richard P. Cronin (chủ nhiệm chương trình Kinh tế chính trị châu Á tại Trung tâm Henry L. Stimson, Mỹ) năm 2007 đưa ra kết luận việc xây một loạt đập của Trung Quốc tại thượng nguồn sông Mekong có thể là mối đe dọa to lớn tới dòng sông. Nghiên cứu này đã được sử dụng lại trong báo cáo có tên “Nước sạch bị đe dọa - Đông Nam Á” của Chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP) và Viện Công nghệ châu Á (AIT) mà Hãng tin AP đã có bài viết giới thiệu gần đây.Trong nghiên cứu của mình, Cronin cho rằng khi hoàn thành, hệ thống đập thủy điện của Trung Quốc sẽ cung cấp khoảng 15.000 MW điện, tương đương 80% lượng điện của đập Tam Hiệp “khổng lồ và gây nhiều tranh cãi” trên sông Dương Tử. Ông viết: “Thủy điện ở Vân Nam là chìa khóa cho kế hoạch chiến lược của Bắc Kinh nhằm phát triển vùng tây nam nghèo khó, thúc đẩy hội nhập kinh tế mạnh mẽ hơn với Đông Nam Á và đáp ứng nhu cầu của vùng ven biển phía đông đang bùng nổ và đói điện”.
Báo cáo của Cronin không ngần ngại chỉ ra rằng hệ thống đập ở Mekong (mà Trung Quốc gọi là sông Lancang) sẽ là mối đe dọa lớn nhất cho biển Hồ của Campuchia, sông Tonle Sap và đồng bằng sông Cửu Long của VN: “Hoạt động của các con đập này sẽ giảm mức độ khắc nghiệt của mùa lũ và hạn ở vùng Hồ Lớn vốn có tầm quan trọng to lớn đối với vai trò kép của vùng này là nguồn ấp cá khổng lồ cho ngư dân của Mekong và là hệ thống điều tiết chiều dài cũng như độ khắc nghiệt của lũ lụt ở đồng bằng sông Cửu Long - vựa lúa của VN”.
Việc trữ nước ở hai đập cỡ trung bình của Trung Quốc ở Manwan và Daochoshan đã giảm hẳn lượng phù sa vô cùng quan trọng do lũ mang lại mỗi năm và làm trầm trọng thêm tác động của hạn hán kéo dài. Gần đây Trung Quốc đã hoàn tất con đập thứ ba trong hệ thống, đó là đập Xiaowan (Tiểu Loan) có công suất 4.200MW và cao 292m.
Để trữ đầy con đập với thể tích 15 tỉ m3 này, sẽ cần sử dụng một nửa dòng nước ở thượng lưu sông Mekong từ 5-10 năm liên tục. Riêng con đập này có thể sản xuất điện nhiều bằng toàn bộ điện ở các nước hạ vùng sông Mekong gộp lại.

Thêm Con Đập Mẹ XIAOWAN, SÔNG MEKONG TRƯỚC NGUY CƠ
Dòng sông Cửu Long đang bị bức tử, theo lời báo động từ các khoa học gia qúôc nội, vì 14 đập nước thượng nguồn Mekong do Trung Quốc xây lên đang làm Miền Tây VN thiếu nứơc, nhìều ruộng VN nhiễm mặn, nguồn cá biến động và phù sa tát cạn. Theo yêu cầu của một số độc giả muốn tìm hiểu thêm về vấn đề này, Sau đây là bản nghiên cứu thực hiện năm 2001 của tác giả Ngô Thế Vinh. Trân trọng cảm ơn tác giả và hy vọng các độc giả quan tâm sẽ có câu trả lời minh bạch sau đây về kế hoạch CSTQ bức tử sông Mekong.
Gửi Nhóm Bạn Cửu Long
Khi được hỏi về mối quan tâm của các quốc gia hạ nguồn về ảnh hưởng khai thác sông Mekong của Trung Quốc, thì Wang Xiaodong chuyên viên Viện Nghiên Cứu Hoa Lục thản nhiên đáp: “Đó là đất và là nước của chúng tôi. Đó là quyền của chúng tôi muốn làm gì thì làm.”(2) - NGÔ THẾ VINH
LẠI THÊM MỘT CON ĐẬP MẸ KHỔNG LỒ
http://www.gzbgj.com/english_n/img_Achievement/xiaowan02.jpgTheo tin Asian Pulse, Côn Minh 04/12/2001: Li Jiating tỉnh trưởng Vân Nam thông báo là trong năm nay Trung Quốc đang rộn rịp chuẩn bị khởi công xây con đập vĩ đại Xiaowan chỉ đứng thứ hai sau con đập Tam Giáp [Three Gorges Dam] lớn nhất thế giới trên sông Dương Tử. (1)
Đập Xiaowan được xây nơi khúc giữa con sông Lan Thương Giang [Lancang Jiang, tên Trung Hoa của con Sông Mekong chảy qua Vân Nam]. Đây là đập thủy điện thứ tư nhưng lại là lớn nhất trong chuỗi 7 con đập bậc thềm Vân Nam [Mekong Cascades] của Trung Quốc trên dòng chính sông Mekong tiếp theo sau ba con đập Manwan 1500 MW (hoàn tất 1993), Đại Chiếu Sơn / Dachaoshan 1350 MW (khởi công 1996) và Cảnh Hồng / Jinhong 1500 MW (khởi công 1998).
Đập Xiaowan sẽ có 4 đơn vị phát điện với công suất lên tới 4200 MW [gần bằng tổng số công suất cả ba con đập Manwan, Đại Chiếu Sơn và Cảnh Hồng]. (Hình 1)
Xiaowan sẽ như một con khủng long trên trên thượng nguồn sông Mekong, chỉ riêng những con số cũng đã gây mối quan tâm lo ngại cho các nhà bảo vệ môi sinh và 5 quốc gia nơi hạ nguồn.
Đây sẽ là một con “đập cao nhất thế giới” 292 mét tương đương tòa nhà chọc trời cao 100 tầng. Và theo Kou Wei giám đốc thủy lợi sông Mekong thì hồ chứa đập Xiaowan sẽ là “Con Đập Mẹ / Mother Dam” dung lượng lên tới 15 tỉ mét khối nước lấy từ con sông Mekong – bằng tổng số dung lượng tất cả các hồ chứa tỉnh Vân Nam. Tổn phí để xây con đập Xiaowan lên tới trên 4 tỉ $US [32 tỉ Yuan] cũng là tổn phí cao nhất cho tất cả các dự án Vân Nam trong nửa thế kỷ qua. Nhiều chục ngàn công nhân đã được điều động tới để xây dựng cầu đường và các dự án yểm trợ cho đại công trình.
Dự trù đập Xiaowan sẽ bắt đầu hoạt động vào năm 2010 và đạt toàn công suất năm 2013, mỗi năm sản xuất 18.9 tỉ kilowatt/giờ , phân nửa lượng điện ấy sẽ được chuyển qua Quảng Đông và các tỉnh cận duyên.
Xiaowan nằm trong chiến lược sản xuất điện của Trung Quốc nơi vùng Tây Nam nghèo khó chưa phát triển nhưng lại rất giàu nguồn “than trắng”. Số lượng điện hiện nay đã dư dùng cho thủ phủ Côn Minh và các khu kỹ nghệ Vân Nam và đã có thể chuyển sang các tỉnh thiếu điện miền đông như Thượng Hải, Quảng Đông ... Chỉ riêng năm nay Vân Nam đã cung cấp cho tỉnh Quảng Đông 900 000 kilowatt/giờ và dự trù sẽ cung cấp 15 triệu kilowatt/giờ trong vòng 15 năm tới. “MẶT TRỜI NHỎ TRÊN SÔNG MEKONG” Các dự án khai thác sông Mekong của Trung Quốc đã có từ thập niên 70 trong thời kỳ còn bức màn sắt cô lập đất nước này với thế giới bên ngoài. Kể từ khi Trung Hoa bắt đầu mở cửa mãi tới năm 1989 người ta chỉ mới được biết sơ qua các dự án thủy điện Vân Nam qua một cuốn sách duy nhất của nhà xuất bản Vân Nam Nhân Dân Thư Xã ấn bản tiếng Trung Hoa dày hơn 600 trang nhan đề “Lan Thương Giang: Tiểu Thái Dương / Lancang Jiang: Xiao Taiyang” gồm 45 bài viết về các đề tài khác nhau nhưng tựu chung là chỉ đề cập tới những lợi lộc về thủy điện và nguồn nước của chuỗi 7 con đập bậc thềm (dĩ nhiên trong đó có con Đập Mẹ Khổng Lồ Xiaowan) trên sông Mekong tỉnh Vân Nam với tổng số công suất lên tới15400 Megawatt tổn phí dự trù là 7.7 tỉ $US.
Do con sông Mekong từ Tây Tạng xuống Vân Nam chảy rất siết [nên có tên Lan Thương Giang / Con Sông Xanh Cuộn Sóng] với rất nhiều ghềnh thác có nơi cao hơn 600 mét . Với độ dốc ấy, dòng chảy siết ấy được coi là lý tưởng cho việc xây cất một chuỗi những con đập khổng lồ, lại trên vùng thưa dân nên không phải tốn kém trong việc tái định cư các nạn nhân trong vùng xây đập.
Tuy đã có kế hoạch khai thác sông Mekong từ những năm 70 nhưng vì thiếu ngân sách nên mãi tới năm 80 con đập Manwan đầu tiên cao 99 mét với bức tường thành cao 35 tầng mới được khởi công và 13 năm sau mới xây xong và ngay sau đó cảnh thiếu điện tối tăm của Vân Nam và thủ phủ Côn Minh đã trở thành quá khứ. Khi hoàn tất chuỗi các con đập Vân Nam này, Trung Quốc sẽ dư khả năng điện khí hóa toàn các tỉnh phía nam và phía đông cận duyên củaTrung Hoa; riêng điện từ đập Cảnh Hồng để xuất cảng sang Thái Lan. Cuốn sách cũng đề cập tới tiềm năng con sông Mekong như một thủy lộ đi về phương nam.
Nhưng điều đáng nói là cả cuốn sách không có bài viết nào nghiên cứu về hậu quả “có thể chấp nhận được hay không” của chuỗi các con đập ấy đối với 5 nước vùng hạ lưu là Miến, Thái, Lào, Cam Bốt và Việt Nam.
Trung Quốc thì luôn luôn giấu kín nhẹm các kế hoạch khai thác sông Mekong của mình – như một thứ bí mật quân sự. Lê Quang Minh, Phó Viện Trưởng Viện Đại Học Cần Thơ Đồng bằng Sông Cửu Long đã phải than thở: “Thật khó để có được thông tin từ phía Trung Quốc. Điều ấy khiến chúng tôi thật sự lo ngại”. (4) Thản hoặc nếu có chút hé mở ra thì Bắc Kinh chỉ toàn nói tới những điều tốt đẹp các khía cạnh màu hồng với hiệu quả tích cực của các con đập “mang tính giai thoại – anecdotal” chứ không phát xuất từ một cuộc nghiên cứu nghiêm chỉnh nào.
Chẳng hạn theo họ thì chỉ với ba con đập đầu tiên Manwan, Đại Chiếu Sơn và Cảnh Hồng có thành vách cao với các hồ chứa theo mùa / seasonal reservoirs, lấy nước tối đa trong mùa mưa và xả nước trong mùa khô sẽ có tác dụng chống lũ lut và chống hạn cho các quốc gia dưới nguồn.
Nhưng những người Cam Bốt hiểu biết thì thấy ngay rằng nếu không còn con lũ hàng năm từ thượng nguồn đổ về để tạo dòng chảy ngược từ con sông Tonlé Sap vào Biển Hồ [như trái tim và sự sống của Cam Bốt] thì rõ ràng đó là tương lai của một Biển Hồ chết . Riêng với Đồng Bằng Sông Cửu Long nam Việt Nam thì các con sông sẽ không chỉ không còn phù sa (nguồn phù sa chủ yếu từ thượng nguồn bị giữ lại trong các hồ chứa Vân Nam) mà cả cạn nguồn nước ngọt để thay thế bằng một biển mặn vì lòng sông thấp hơn mặt biển và rồi ra sẽ chẳng còn đâu vựa lúa nuôi sống cả nước và không còn đâu cả một Nền Văn Minh Miệt Vườn.
Trung Quốc đang ngang ngược và độc quyền khai thác con sông Mekong bằng cái giá của hạnh phúc an sinh và cả sống còn của hàng trăm triệu cư dân nơi các quốc gia hạ nguồn.
VẪN MỘT KHUÔN MẪU LÝ LẼ CỦA KẺ MẠNH
http://www.gzbgj.com/english/img_Achievement/Xiaowan06.gifKhi đề cập tới biến cố máy bay Mỹ Hoa đụng nhau mới đây (04/01) đưa tới việc bắt giữ phi hành đoàn Mỹ trên đảo Hải Nam, Wang Xiaodong, chuyên viên thuộc Viện Nghiên Cứu Trung Hoa đã tuyên bố hung hãn rằng: “Chỉ có một ngôn ngữ mà người Mỹ hiểu được là sức mạnh quân sự.”
Theo tấm bản đồ ấn hành lần đầu tiên năm 1989 của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, thì Biển Đông (mà họ gọi là Nam Hải
/ South China Sea) là thuộc “Vùng Đặc Quyền Kinh Tế – Exclusive Economic Zone” của họ. Điều đó có nghĩa là họ khẳng định các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa [vốn của Việt Nam] với nguồn dầu khí khổng lồ đương nhiên thuộc chủ quyền của Trung Quốc mà chẳng cần phải thương thảo [Sic]. Máy bay hay tàu chiến dù là của siêu cường Mỹ vào Biển Đông có nghĩa là đã vi phạm chủ quyền lãnh thổ Trung Hoa.
Như vậy ngay sang năm đầu của Thế Kỷ 21, đã không còn giới hạn trong “tranh chấp vùng” giữa Trung Quốc và các nước nhỏ Đông Nam Á, Bắc Kinh nay đã ngang nhiên đối đầu với Mỹ khi khẳng định Thái Bình Dương phải là vùng ảnh hưởng của Hoa Lục và yêu cầu Đệ Thất Hạm Đội Mỹ phải rút đi. Vẫn trong cùng một “mẫu hay mô thức – pattern”dựa trên lý lẽ của kẻ mạnh ấy, người ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy Trung Quốc không chỉ thường xuyên lấn át thô bạo cả bằng quân sự các quốc gia láng giềng trên Biển Đông mà họ còn tự cho là có độc quyền và toàn quyền khai thác con sông Mekong với thế thượng phong là quốc gia thượng nguồn chiếm lĩnh suốt nửa chiều dài dòng sông. Trung Quốc luôn luôn tỏ ra chuyên quyết trong các kế hoạch tận khai thác một con sông Mekong mà chẳng kể gì tới tới mối quan tâm lo lắng về một thảm họa môi sinh do họ gây ra cho các quốc gia dưới nguồn.
APRÈS NOUS LE DÉLUGE
Năm 1995 Bắc Kinh đã dứt khoát từ chối tham gia Ủy Hội Sông Mekong để vẫn là một nước Trung Hoa “ngoài vòng kiêm tỏa” tự do muốn làm gì thì làm. Ủy Hội Sông Mekong không có Trung Quốc tham gia và hợp tác sẽ trở thành một tổ chức vô hiệu và tê liệt.
(Tưởng cũng nên mở một dấu ngoặc về lịch sử hình thành Ủy Hội Sông Mekong. Năm 1957, Ủy Ban Sông Mekong / MRC Mekong River Committee được Liên Hiệp Quốc thành lập bao gồm 4 nước Thái, Lào, Cam Bốt và Việt Nam với trụ sở đặt tại Bangkok để có kế hoạch khai thác con sông Mekong không phải chỉ có tiềm năng thủy điện mà còn cả về phát triển thủy lợi, canh nông, ngư nghiệp và giao thông. Nhưng do Chiến Tranh Việt Nam lan rộng mọi nên kế hoạch thủy điện trên dòng chính sông Mekong phải đình hoãn. Đến tháng 4 năm 1995, bốn nước lại nhóm họp để thành lập Ủy Hội Sông Mekong / MRC Mekong River Commission trong kế hoạch hợp tác và phát triển bền vững nhưng với điều thay đổi cơ bản là không nước hội viên nào có quyền phủ quyết / veto power). Đến năm 1997, cho dù Liên Hiệp Quốc đã phê chuẩn công ước liên quan tới vấn đề hợp tác phát triển bền vững và sử dụng nước trên các con sông quốc tế nhưng cũng chính Trung Quốc đã lại bỏ phiếu chống.
Tháng 08 năm 2000 có thêm một Hội Nghị “ASEAN Plus Three” họp tại vương quốc Brunei, ngoài các nước thuộc Hiệp Hội Quốc Gia Đông Nam Á, còn có thêm ba nước Trung Quốc, Nhật Bản và Nam Hàn nhưng do thái độ ngang ngạnh của Bắc Kinh nên cũng không đưa tới một kết quả cụ thể nào, phá tan niềm hy vọng hợp tác của các nước hạ nguồn với Trung Quốc trong kế hoạch phát triển Sông Mekong. (4)
Trong khi đó Trung Quốc vẫn không ngừng “xây thêm – xây thêm” những con đập Vân Nam [với điện khí hóa, kỹ nghệ hóa gây ô nhiễm]. Trung Quốc đã tự do lấy nước vào các hồ chứa khổng lồ, làm cạn dòng sông, ngăn chặn nguồn phù sa, hủy hoại nguồn cá , với tác hại lâu dài trên toàn hệ sinh thái ảnh hưởng tới đời sống của hàng trăm triệu cư dân dưới nguồn. Xa hơn nữa họ còn có khả năng đổi dòng sông Mekong để có nước tưới cho những vùng đất mênh mông khô hạn của Trung Quốc và cả dùng chất nổ phá vỡ những khối đá trên sông để mở thủy lộ giao thông đi về phương nam.
Trong chuyến đi khảo sát thực địa bên Lào mới đây (12/00) chúng tôi đã tận mắt chứng kiến sự suy thoái của con sông Mekong đang cạn dần – một cách tệ hại và nhanh hơn cả những dự đoán bi quan nhất. Nhưng với Wang Xiaodong chuyên viên nghiên cứu người Hoa thì không có gì để phải bận tâm, bởi vì theo Wang thì “Đó là đất và là nước của chúng tôi. Đó là quyền của chúng tôi muốn làm gì thì làm.” Cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi một giáo sư am hiểu tình hình Trung Quốc đã đưa ra nhận xét là trong bang giao quốc tế “Trung Quốc chưa hề có một hồ sơ theo dõi tốt – good track records”.
CON SÔNG QUỐC TẾ:
Wang Xiaodong như một chuyên viên nghiên cứu người Hoa ở cái tuổi 45 [một nguồn chất xám [think tank của Hoa Lục] đang biểu trưng cho một tinh thần quốc gia cực đoan và bá quyền của giới lãnh đạo Trung Quốc. Hiển nhiên Wang Xiaodong không thể không biết con sông Mekong hội đủ định nghĩa “địa dư chính trị / geopolitics” của một “con sông quốc tế – international river” bao gồm những đặc tính: (a) con sông chảy qua hai hay nhiều quốc gia [Tây Tạng, Trung Hoa, Miến Điện, Lào, Thái, Cam Bốt, Việt Nam], hoặc (b) con sông tiêu tưới cho lưu vực [drainage basin] của hai hay nhiều quốc gia [Vân Nam/Trung Hoa, Miến Điện, Thái Lan, Lào Cam Bốt và Đồng bằng Sông Cửu Long/Việt Nam] hoặc (c) con sông liên quan tới vấn đề biên giới thuộc lãnh vực công pháp quốc tế [sông Mekong như một ranh giới thiên nhiên giữa Thái Lan và Lào], hay (d) con sông là phương tiện giao thông đi lại bằng một thỏa thuận quốc tế nhưng trong thực tế khi chảy vào nội địa một quốc gia thì quyền ấy vẫn có thể bị hạn chế hay bị tước đoạt tùy theo cách diễn dịch của quốc gia liên hệ. Hội đủ tất cả những đặc tính ấy, Mekong đúng nghĩa là một con sông quốc tế . Biết rõ điều ấy, vẫn đưa ra những lý lẽ cực đoan dựa trên sức mạnh trong khung cảnh một thế giới bước vào “toàn cầu hóa / globalization”, làm sao lục địa Á Châu có thể có được một tương lai hòa bình.
TRUNG QUỐC NẮM MỌI CON BÀI
Con sông quốc tế lớn thứ 12 thế giới và lớn thứ ba Châu Á ấy đang đứng trước những nguy cơ. Không có kế hoạch nghiên cứu về những bước phát triển bền vững, không có sự hợp tác tin cậy giữa các quốc gia, chỉ có những bước phát triển tự phát bừa bãi dẫn tới từng bước hủy hoại toàn hệ sinh thái vô cùng phong phú của con sông [chỉ đứng thứ hai sau con sông Amazon]. Phá rừng tự sát [từ Trung Quốc xuống tới Lào, Thái, Cam Bốt và Việt Nam] vẫn đang tiếp tục ngốn nốt những khu Rừng Mưa / Rainforest còn sót lại, giết nốt những loài thú hiếm. Không còn những khu Rừng Mưa như những tấm bọt biển khổng lồ giữ nước trong Mùa Mưa và nhả ra trong Mùa khô đưa tới hậu quả cực đoan là lụt lớn ngay Mùa Mưa và hạn hán trong Mùa Khô mà điển hình là vụ lũ lụt khủng khiếp năm vừa qua ở Cam Bốt và Việt Nam làm chết 500 người, trôi nhà cửa, ruộng vườn và vô số gia súc.
Đánh cá bằng lưới lớn theo lối lùng và diệt với mỗi mẻ lưới lên tới cả trăm ngàn con bất kể lớn nhỏ đã làm suy giảm nguồn cá một cách đáng lo ngại chưa kể nguy cơ tận diệt một số giống cá hiếm như Pla Beuk, cá Dolphins... chỉ còn lại một số rất ít trên con sông Mekong.
Nhưng thảm họa lớn nhất cho con sông là những đập thủy điện không ngừng được xây thêm – xây thêm trên dòng chính và cả các phụ lưu sông Mekong. Đáng kể nhất là những con đập bậc thềm khổng lồ Vân Nam. Từng khúc sông bị bóp nghẽn không chỉ ngăn chặn các đoàn di ngư bơi lên thượng nguồn để sinh sản [như cá Pla Beuk mỗi năm vượt mấy ngàn Km từ hạ nguồn để lên hồ Đại Lý đẻ trứng] còn làm thay đổi nhịp độ dòng chảy gây ô nhiễm nguồn nước làm ảnh hưởng trên toàn sinh cảnh của dòng sông và tác hại trên hàng trăm triệu cư dân sống hai bên bờ con sông ấy.
Witoon Permpongsachareon, chủ tịch nhóm bảo vệ môi sinh TERRA (Towards Ecological Recovery & Regional Alliance) có văn phòng ở Bangkok phát biểu: “Những con đập là mối đe dọa lớn nhất đối với con sông Mekong và sự trong lành của môi sinh. Xây một con đập thì cũng giống như kẹp một động mạch trên một cơ thể khỏe mạnh. Nếu máu không lưu thông chắc chắn cơ thể ấy sẽ bị tổn hại” (3). Cũng lại chính Witoon tiếp: “Chúng ta phải cùng nhau hợp tác khai thác con sông Mekong như một toàn thể và không để cho bị chia cắt bằng những hàng rào chánh trị” (4) Đó chỉ là tiếng kêu cứu trong sa mạc bởi vì trớ trêu thay, tất cả mong ước ấy có thành tựu được hay không lại hoàn toàn do Bắc Kinh định liệu.
James Sasser, cựu đại sứ Mỹ ở Bắc Kinh khi được hỏi về phương hướng giải quyết vụ đụng độ Mỹ Hoa trên đảo Hải Nam đã phát biểu là “Trung Quốc nắm trong tay mọi con chủ bài – China held all the cards”. Phát biểu đó cũng hoàn toàn đúng trong vụ tranh chấp khai thác con sông Mekong. Và khi mà những con đập thủy điện Vân Nam được coi như yếu tố tích cực tạo sức bật cho các bước canh tân nhảy vọt của Trung Quốc thì theo Dai Qing nhà hoạt động môi sinh nổi tiếng đã có nhận định là “Trung Quốc sẽ không có một thay đổi nào trong kế hoạch khai thác sông Mekong của họ cho dù ảnh hưởng tác hai ra sao đối với các quốc gia dưới nguồn” (3). Bắc Kinh đã hành động như chính mình đã sở hữu toàn 4500 Km suốt chiều dài của dòng sông – vốn là một con sông quốc tế.
CHIẾN TRANH MÔI SINH VÀ NHÂN QUYỀN
Phải làm gì khi mà thế liên minh của các quốc gia Đông Nam Á thực sự là chia rẽ và suy yếu. Các nước nhỏ ấy có thể làm khó gây thương tích cho nhau (self-inflicted injury) nhưng lại có chung một thái độ cam chịu trước sự hoành hành của nước lớn Trung Quốc. Mà Trung Quốc thì bao giờ cũng theo chánh sách chia để trị và chỉ chấp nhận những cuộc thương thảo song phương trong các vụ tranh chấp và hiển nhiên không có một nước nào có đủ sức mạnh và tư thế ngoại giao [diplomatic leverage] để khiến Trung Quốc phải lắng nghe tiếng nói của mình.
Trước âm mưu không chỉ Tây Tạng Hóa Biển Đông mà còn Độc quyền Khai Thác Với Từng Bước Hủy Hoại Con Sông Mekong ảnh hưởng tác hại trên sự sống còn của các quốc gia nơi hạ nguồn, thì chỉ còn một đường sống cho các nước nhỏ Đông Nam Á là đoàn kết trong bình đẳng và tin cậy để có thể hành động phối hợp trong một thế trận chung về kinh tế , quân sự và nhất là chính trị ngoại giao để có đủ sức mạnh đương đầu với con mãnh hổ Trung Quốc.
Rõ ràng Trung Quốc đang từng bước phát triển hủy hoại con sông Mekong, về lâu dài sẽ ảnh hưởng tới từng ngụm nước uống, chén cơm, nồi cá... hàng ngày của mỗi cư dân sống hai bên bờ con sông Mekong, tác hại trên quyền sống của hàng trăm triệu cư dân sống trong lưu vực nơi hạ nguồn (và cũng là điều bi thảm khi chính những nạn nhân ấy – điển hình là hàng triệu nông dân ngư dân sống nơi Đồng Bằng Sông Cửu Long rất cô đơn bị lãng quên, không hề được thông tin lại bị bóp nghẹt tiếng nói nhưng đồng thời họ vẫn bị bóc lột và khai thác bởi một chế độ toàn trị) .
Trước mắt, việc đưa Trung Quốc ra trước diễn đàn Liên Hiệp Quốc về thái độ độc quyền khai thác con sông Mekong như một con sông quốc tế mà bất kể tới hậu quả nơi các quốc gia hạ nguồn sẽ như một báo động cảnh giác ít ra cũng khiến Trung Quốc và cả những đại công ty tư bản tài trợ cho các dự án thủy điện ấy biết là thế giới đang theo dõi họ khiến ở một chừng mực nào đó họ phải làm việc với những phương thức công khai minh bạch và hành sử một cách có trách nhiệm hơn thay vì với thái độ cao ngạo và trịch thượng Sống Chết mặc Bay như hiện nay.
Với một cái nhìn toàn cảnh trong mối tương quan địa dư chánh trị của toàn vùng, thì việc tiếp tục xây thêm những con đập trên dòng chính sông Mekong – điển hình là việc khởi công xây thêm con đập mẹ khổng lồ Xiaowan, phải được xem là một hành động thù nghịch, tuy chưa có tiếng nổ của súng đạn nhưng chính đó là một cuộc chiến tranh môi sinh không tuyên chiến của Trung Quốc. Đây cũng là “một vi phạm nhân quyền / human right violation trên quy mô lớn nhất”.
NGÔ THẾ VINH
04/20/01
Tham Khảo:
1/ China Prepares For Major New Power Station. Asia Pulse Pte Limited. Apr 12, 2001.
2/ China’s Dated Perspective Lingers, Turning Encounters Into Crisis. Karby Leggett, Peter Wonacott, Ian Johnson. Wall Street Journal, Apr 6, 2001.
3/ Strangling the Mekong. Ron Moreau, Richard Ernsberger Jr. Newsweek International Mar 19, 2001
4/ The Mekong Choke Point. Shawn W. Crispin, Margot Cohen, Bertil Lintner. Far Eastern Economic Review, Oct 12, 2000.
5/ Development Dilemmas in the Mekong Subregion. Bob Stensholt. Workshop Proceedings, Oct 1-2, 1996. Melbourne.
Monash Asia Institute. VIC 3168, Australia.
6/ Lessons Unlearned: Damming the Mekong River. Rothert Steve. International River Network, Working paper 6, Oct 1995.

NGÔ THẾ VINH

No comments:

Post a Comment