Kiến trúc Vietnam(7): quản lý kiến trúc đô thị

Hiện nay, quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh tại Việt Nam, nhiều đô thị đã được nâng cấp cải tạo, phát triển rộng, dài, cao, to hơn, chất lượng cuộc sống trong các đô thị cũng có nhiều cải thiện hơn... Tuy nhiên, bên cạnh đó đô thị hóa cũng để lại nhiều vấn đề bức xúc cho xã hội.

“...Tất cả những biểu hiện ấy, để công bằng, chúng ta không thể đơn thuần đổ lỗi mãi cho người dân thiếu hiểu biết, thiếu thẩm mĩ. Đó chẳng qua là sự yếu kém của công tác quản lí đủ tầm, thiếu sự hướng dẫn, điều tiết mang tính pháp qui mà chính quyền mỗi đô thị cần phải có...”
Hiện nay, quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh tại Việt Nam, nhiều đô thị đã được nâng cấp cải tạo, phát triển rộng, dài, cao, to hơn, chất lượng cuộc sống trong các đô thị cũng có nhiều cải thiện hơn... Tuy nhiên, bên cạnh đó đô thị hóa cũng để lại nhiều vấn đề bức xúc cho xã hội như: lao động, việc làm, thu nhập, chất lượng không gian đô thị, kiến trúc công trình, cảnh quan môi trường… Nhất là bộ mặt kiến trúc đô thị đang để lại nhiều khoảng trống đáng buồn và dường như còn có xu hướng gia tăng. Sự “nhếch nhác, lộn xộn” trong các đô thị đã và đang chứng tỏ công tác quản lí, kiểm soát phát triển kiến trúc đô thị chưa có hiệu quả như mong muốn… Bởi vậy, đây cũng là một trong những vấn đề hết sức cần thiết, cấp bách và cần được quan tâm trong giai đoạn phát triển hiện nay.
Trong khuôn khổ bài viết này, xin được đề cập đến một số vấn đề liên quan đến công tác quản lí kiến trúc đô thị mà ở đó mỗi người có lòng tự trọng với “gương mặt” đô thị, với ngôi nhà, góc phố nơi mình sống không thể thờ ơ, không thể không tự ái một khi sự lộn xộn, sự nhếch nhác… dường như là những hiện tượng phổ biến đang diễn ra hàng ngày trong từng đô thị. Vậy, quản lí kiến trúc đô thị được hiểu và nhìn nhận như thế nào? Dưới đây là một vài khía cạnh cần quan tâm trao đổi.
Một là, để quản lí kiến trúc đô thị tốt, trước hết cần nhìn kiến trúc đô thị dưới dạng tổng thể. Hiện nay, sự bức xúc của đô thị hóa nhằm giải quyết nhanh những vấn đề có liên quan đến xã hội đô thị buộc chúng ta phải quan tâm đến việc phát triển gấp quĩ nhà ở, công trình dịch vụ xã hội, kĩ thuật hạ tầng... đáp ứng kịp thời những nhu cầu cần thiết trước mắt cho người dân... Có lẽ cũng bởi vậy mà chúng ta chưa có thời gian để làm đẹp đô thị, để thiết kế đô thị cho đẹp hơn. Chính vì thế, phần lớn các đô thị khi xây dựng chúng ta đều nhận thấy còn thiếu trật tự, ngăn nắp, thiếu sự hoàn thiện, nhất là thiếu sự đồng bộ… Cái đẹp của đô thị không chỉ biểu hiện ở một công trình kiến trúc đơn lẻ, nói chính xác hơn, một công trình kiến trúc không thể làm nên một đô thị / một tổng thể đô thị. Bởi, một công trình kiến trúc có thể được coi là đẹp nhưng xây dựng không đúng chỗ, hoặc chúng được xây dựng đồng loạt (một cách nhân bản vô tính) dọc theo một tuyến phố cũng không thể tạo nên bộ mặt kiến trúc đô thị đẹp (chí ít là bộ mặt kiến trúc của một tuyến phố). Đây cũng là bài học khi phát triển đô thị, các khu chức năng đô thị (như du lịch, nghỉ dưỡng…) theo mô hình dự án thiếu sự kiểm soát của qui hoạch tổng thể. Nhìn vào từng dự án có thể là đẹp, nhưng khi gộp tất cả các dự án lại với nhau lại tạo nên sự manh mún, thiếu một tiếng nói chung, diện mạo kiến trúc đô thị lại có “vấn đề”… Do đó, kiến trúc đô thị hay cụ thể hơn là quản lí kiến trúc đô thị, trước hết phải được nhìn dưới góc độ tổng thể bởi, bản chất của quản lí kiến trúc đô thị chính là việc quản lí chất lượng không gian đô thị... Như vậy, về mặt lí luận hay thực tiễn, quản lí kiến trúc đô thị không thể không xem xét kiến trúc đô thị dưới dạng tổng thể... Có như vậy kiến trúc đô thị mới là một chỉnh thể, không bị khu biệt bởi những công trình kiến trúc đơn lẻ và chất lượng không gian đô thị mới đạt được theo mong muốn của các nhà thiết kế qui hoạch và quản lí kiến trúc đô thị.
Hai là, quản lí kiến trúc đô thị cần gắn với thiết kế đô thị tổng thể (TKĐT trong đồ án QHCXD đô thị) và thiết kế đô thị khu vực (TKĐT trong đồ án QHCT xây dựng đô thị). Trong qui trình trước đây, đối với qui hoạch chung (QHC) xây dựng đô thị, ngoài việc nghiên cứu định hướng phát triển không gian, qui hoạch sử dụng đất… còn nghiên cứu qui hoạch kiến trúc cảnh quan đô thị. Tuy nhiên, ở khía cạnh kiến trúc cảnh quan đô thị, phần lớn ở các đồ án qui hoạch vẫn chưa được nghiên cứu sâu và vì thế khó trở thành công cụ hỗ trợ cho công tác quản lí kiến trúc đô thị sau này. Thực tế, những năm gần đây đã xuất hiện sự tranh luận về một loại công việc trong Qui trình lập qui hoạch xây dựng đô thị (Urban Planning) có liên quan đến chất lượng không gian đô thị nói chung, đến quản lí kiến trúc đô thị nói riêng.
Đó là bộ môn “Thiết kế đô thị” (Urban Design), một lĩnh vực tạm gọi là mới so với qui trình qui hoạch xây dựng đô thị hiện nay của chúng ta.
Về mặt lí luận, đối tượng nghiên cứu của thiết kế đô thị (TKĐT) là hình thức, tiện ích, thẩm mĩ trong môi trường đô thị - môi trường gắn kết các kiến trúc vật thiên tạo và nhân tạo trong một trật tự chất lượng thẩm mĩ không gian nhất định. Đó cũng chính là sự sáng tạo trật tự không gian hoặc sự mở rộng của thiết kế kiến trúc trong một không gian 3 chiều và một “không gian ảo” có ý thức trong cảm nhận của con người gắn với cuộc sống tâm linh. “Không gian ảo” ấy chính là sự hoàn thiện của kiến trúc đô thị trong tương lai được tạo dựng bởi “chiều thứ tư”: thời gian (của không gian bốn chiều)…để tạo nên hình ảnh, tạo nên dấu ấn cho mỗi công trình nói riêng, cho tổng thể đô thị nói chung. Có ý kiến cho rằng (Eleanor Smith Morris) các nhà qui hoạch (Town Planner) quan tâm đến sử dụng đất... Những lô đất được phân chia dường như không chú trọng lắm đến những đặc tính của không gian 3 chiều hay hình dáng kiến trúc công trình được xây dựng trên lô đất ấy. Các kiến trúc sư (Architect) gắng sức tạo nên sự liên hệ không gian giữa công trình với môi trường xung quanh... Nhưng họ cũng lại không quan tâm lắm (hoặc không có trách nhiệm) quan tâm đến những vấn đề diễn ra bên ngoài công trình. Bởi vậy không gian đô thị thường bị thiếu đi sự hoàn thiện... Để kết nối giải quyết vấn đề này cần thiết phải có các nhà thiết kế đô thị (Urban Designer). Họ có trách nhiệm tạo nên những không gian 3 chiều nhằm diễn đạt những vấn đề trong nghệ thuật tổ chức cấu trúc không gian, tạo nên sự liên hệ giữa công trình đơn lẻ với cấu trúc không gian đô thị.
Hiện nay, theo một số nghiên cứu về đô thị thì trên thế giới TKĐT đang tồn tại 4 khuynh hướng chính:

(1) Đô thị mang tư tưởng triết học (Ideology): hình thành cấu trúc không gian thông qua những hình tượng mang tư tưởng nhân văn;

(2) Đô thị mang tính thẩm mĩ cao (City is beautiful): tạo không gian đô thị mang tính thẩm mĩ cao, cấu trúc thành phố, kiểu dáng các công trình, trục bố cục không gian tạo nên những điểm nhấn, hấp dẫn...;

(3) Đô thị vườn (Garden City) theo ý tưởng của Ebenezer Howard: cấu trúc không gian đô thị tạo nên sự cân bằng giữa không gian xanh và không gian xây dựng, hướng tới sự ổn định và phát triển bền vững;

(4) Đô thị cách tân (Neo - Tradition): tổ chức không gian đô thị lấy cảm hứng từ sự cách tân nghệ thuật xây dựng đô thị truyền thống, sự kết hợp giữa kĩ thuật xây dựng hiện đại với giá trị nghệ thuật không gian truyền thống...

Như vậy, TKĐT cho những công cụ để chúng ta có thể cải thiện một cách có ý thức chất lượng đô thị và khu vực đô thị của chúng ta... Theo đề tài NCKH mã số RD 14 (Nghiên cứu TKĐT trong QHXD đô thị) thì TKĐT được phân làm hai loại: (1) TKĐT tổng thể và (2) TKĐT khu vực.

TKĐT tổng thể nhằm thiết kế tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan cho tổng thể đô thị hoặc khu vực của đô thị nhằm thể hiện chi tiết về các yếu tố tạo nên hình ảnh chính của đô thị trên cơ sở những định hướng chủ đạo về không gian đã xác định trong đồ án QHCXD đô thị.
TKĐT khu vực nhằm cụ thể hóa thiết kế đô thị tổng thể, thiết kế không gian kiến trúc cảnh quan chi tiết cho một khu vực, một khu chức năng của đô thị như trung tâm công cộng, quảng trường, trục phố, khu nhà ở hay công viên...
Đó là về mặt lí luận. Tuy nhiên, trong tư duy quản lí ngành, thời gian qua chúng ta đã nhận rõ: Bản chất của quản lí kiến trúc đô thị chính là việc quản lí chất lượng không gian đô thị. Chính vì thế trong qui hoạch xây dựng, TKĐT đã được Đảng và Nhà nước quan tâm chỉ đạo. Tại điều 27, khoản a, mục 1, Luật Xây dựng 2003, điều 30, mục 1, Nghị định của Chính phủ về Qui hoạch xây dựng (số 08/2005/NĐ-CP, ngày 24/01/2005) đã qui định về TKĐT trong qui hoạch chung xây dựng đô thị. Đây chính là nội hàm của TKĐT tổng thể, hay công cụ để quản lí kiến trúc đô thị ở dạng tổng thể. Theo đó:
- Điều 27, khoản a, mục 1 (Luật Xây dựng 2003) qui định: “Trong qui hoạch chung xây dựng đô thị, TKĐT phải qui định và thể hiện được không gian kiến trúc công trình, cảnh quan của từng khu phố, của toàn bộ đô thị, xác định được giới hạn chiều cao công trình của từng khu vực và của toàn bộ đô thị…”
- Điều 30, mục 1, Nghị định của Chính phủ về Qui hoạch xây dựng qui định về Nội dung TKĐT trong qui hoạch chung xây dựng đô thị:
a) Nghiên cứu các vùng kiến trúc, cảnh quan trong đô thị; đề xuất tổ chức không gian cho các khu trung tâm, cửa ngõ đô thị, các tuyến phố chính, các trục không gian chính, quảng trường lớn, không gian cây xanh, mặt nước và các điểm nhấn trong đô thị;
b) Nghiên cứu xác định tầng cao tối đa, tầng cao tối thiểu của công trình xây dựng thuộc các khu chức năng và toàn đô thị.
- Điều 31, mục 1, Nghị định của Chính phủ về Qui hoạch xây dựng qui định về Nội dung TKĐT trong qui hoạch chi tiết xây dựng đô thị:
a) Nghiên cứu, xác định các công trình điểm nhấn trong không gian khu vực qui hoạch theo các hướng, tầm nhìn khác nhau; tầng cao xây dựng công trình cho từng lô đất và cho toàn khu vực; khoảng lùi của công trình trên từng đường phố và các ngõ phố;
b) Nghiên cứu hình khối, màu sắc, ánh sáng, hình thức kiến trúc chủ đạo của công trình kiến trúc; hệ thống cây xanh, mặt nước, quảng trường; chỉ giới đường đỏ, chỉ giới xây dựng, xác định cốt đường, cốt vỉa hè, cốt nền công trình, chiều cao khống chế công trình trên từng tuyến phố…

Như vậy, TKĐT tổng thể và TKĐT khu vực là một trong những công cụ để quản lí kiến trúc đô thị hữu hiệu (vì đây là cơ sở để xây dựng Qui chế quản lí đô thị)... Bởi vậy, quản lí kiến trúc đô thị cần gắn với TKĐT tổng thể và TKĐT khu vực, đồng thời cũng là việc thực hiện Luật Xây dựng 2003 và Nghị định số 08/2005/ NĐ - CP của Chính phủ về Qui hoạch xây dựng một cách nghiêm túc có hiệu quả.
Ba là, quản lí kiến trúc đô thị cần quản lí từ công trình kiến trúc đơn lẻ đến tổng thể kiến trúc đô thị. Đô thị / kiến trúc đô thị được hình thành từ các công trình kiến trúc hoặc quần thể công trình kiến trúc… Chúng được kết nối với nhau bởi các tuyến đường, các hành lang lưu thông, các quảng trường, các vườn hoa, công viên… tạo thành các dãy phố, nhóm nhà ở, khu vực đô thị… Lẽ đương nhiên một công trình kiến trúc đơn lẻ không tạo nên tổng thể đô thị, nhưng đôi khi nó lại làm ảnh hưởng (tích cực hoặc tiêu cực) đến diện mạo chung của bộ mặt kiến trúc đô thị (ví dụ: Nhà hát lớn TP.Hà Nội -> ảnh hưởng tích cực; Khách sạn Hà Nội vàng -> ảnh hưởng tiêu cực…hoặc như toà nhà 54 tầng Saigon Park Tower dự kiến xây dựng ở công viên 23 tháng 9, TP. Hồ Chí Minh đang được dư luận cả nước quan tâm trong sự phát triển không gian kiến trúc của TP).
Việc quản lí kiến trúc đô thị nhất thiết phải quan tâm cả đến từng công trình cụ thể và là công việc hàng ngày của mọi người dân và chính quyền đô thị.

Bốn là, quản lí kiến trúc đô thị cần quản lí theo “Qui chế đô thị”
Trong quản lí kiến trúc đô thị chúng ta có thể khai thác mô hình “Qui chế Sa Pa”, “Qui chế quản lí kiến trúc xây dựng khu vực xung quanh Trung tâm Hội nghị Quốc gia”… các qui định trong TKĐT tổng thể và TKĐT khu vực để xây dựng “Qui chế quản lí kiến trúc đô thị” (gọi tắt là Qui chế đô thị). Theo đó, Qui chế đô thị cần bao quát được các nội dung cơ bản sau:

(1) Các qui định về quản lí qui hoạch xây dựng đô thị (QHCXD đô thị và QHCTXD đô thị…) nên thực hiện, áp dụng các điều khoản trong Luật Xây dựng 2003 và Nghị định số 08/2005/NĐ-CP của Chính phủ về Qui hoạch xây dựng:

- Điều 18, Nghị định số 08/ 2005/NĐ-CP của Chính phủ qui định về quản lí QHCXD đô thị:
+ Qui định về bảo tồn, tôn tạo các công trình kiến trúc, khu danh lam thắng cảnh, khu di sản văn hóa, khu di tích lịch sử - văn hóa trong đô thị;
+ Qui định về phạm vi bảo vệ hành lang an toàn các công trình hạ tầng kĩ thuật của đô thị và các biện pháp bảo vệ môi trường;
+ Qui định chỉ giới đường đỏ của các tuyến phố chính, cốt xây dựng khống chế của đô thị, các khu vực cấm xây dựng;
+ Qui định các chỉ tiêu về diện tích, mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất và tầng cao tối đa, tối thiểu của công trình trong các khu chức năng đô thị.

- Điều 27, Nghị định số 08/ 2005/NĐ-CP của Chính phủ qui định về quản lí QHCTXD đô thị:
+ Qui định ranh giới, phạm vi lập qui hoạch chi tiết xây dựng;
+ Qui định về vị trí, ranh giới, tính chất, qui mô các khu chức năng trong khu vực thiết kế; các chỉ tiêu về mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất, tầng cao, cốt xây dựng đối với từng lô đất; chỉ giới đường đỏ, chỉ giới xây dựng và các yêu cầu cụ thể về kĩ thuật đối với từng tuyến đường; phạm vi và hành lang bảo vệ các công trình hạ tầng kĩ thuật;
+ Qui định về vị trí, qui mô và phạm vi, hành lang bảo vệ đối với các công trình xây dựng ngầm, trên mặt đất và trên cao;
+ Qui định về bảo vệ, tôn tạo, cải tạo, chỉnh trang các công trình kiến trúc, di tích lịch sử - văn hóa, địa điểm cảnh quan và bảo vệ môi trường sinh thái;

(2) Các Qui định về quản lí kiến trúc, cảnh quan đô thị bao gồm qui định chỉ giới đường đỏ, chỉ giới xây dựng, cốt xây dựng nền đường, cốt xây dựng vỉa hè cho tất cả các tuyến phố; qui định chiều cao công trình và chiều cao tầng một của công trình; qui định hình khối kiến trúc, mặt đứng, mái, mái hiên, ô văng, ban công của các công trình; qui định màu sắc, ánh sáng, vật liệu xây dựng công trình; các qui định về công trình tiện ích đô thị, tượng đài, tranh hoành tráng, biển quảng cáo, các bảng chỉ dẫn, bảng kí hiệu, cây xanh, sân vườn, hàng rào, lối đi cho người tàng tật, vỉa hè và qui định kiến trúc bao che các công trình hạ tầng kĩ thuật đô thị. (Nội dung các qui định về thiết kế đô thị theo điều 31, khoản c, Nghị định số 08/2005/NĐ-CP)

(3) Phân cấp và qui định trách nhiệm quản lí qui hoạch xây dựng và quản lí xây dựng theo qui hoạch chi tiết…

Năm là, quản lí kiến trúc đô thị không thể tách rời trách nhiệm của chính quyền đô thị

Chính quyền đô thị, chủ thể chịu trách nhiệm chính quản lí mọi mặt hoạt động phát triển (KT-XH), kiểm soát phát triển của đô thị trong đó có công tác qui hoạch xây dựng đô thị. Tổ chức, chỉ đạo lập qui hoạch, quản lí xây dựng theo qui hoạch, quản lí kiến trúc đô thị…là công việc, trách nhiệm của chính quyền đô thị. Việc xây dựng “Qui chế quản lí kiến trúc đô thị” cũng do chính quyền đô thị tổ chức, chỉ đạo thực hiện.

Sẽ là một thất bại, nếu như mỗi đô thị Việt Nam không tồn tại cái đẹp riêng của mình, nhất là không được phát triển theo hướng bền vững. Từ Bắc vào Nam, từ miền xuôi lên miền ngược, từ Hà Nội đi Hải Phòng, lên Cao Bằng, Sapa... Từ TP. Hồ Chí Minh tới Nha Trang, lên Đà Lạt... đâu đó, đô thị (đôi khi chỉ có một lớp nhà) cứ kéo dài, lan toả, bám dọc các tuyến đường tưởng chừng “phố phường” như không có hồi kết (Mà đây có thể lại là sự nhầm lẫn của quan điểm cho rằng sự phát triển xây dựng dọc theo các tuyến đường chính là phát triển hành lang đô thị - ý kiến ông Kenji TANAKA, chuyên gia Nhật Bản); đâu đó, những ngôi nhà mái chóp “củ hành, củ tỏi” của phương Tây, những “cửa kính, khung nhôm” xa lạ với môi trường, khí hậu Việt Nam tràn lan như một “bệnh dịch” có mặt ở hầu khắp các đô thị Việt Nam..; đâu đó, các lớp nhà xộc xệch, cứ “túm năm, tụm ba” vây kín, phong toả các khu công nghiệp, các trường học, bệnh viện, các đầu cầu, nút giao thông góp phần tạo ra sự lộn xộn, thiếu thẩm mĩ, mất an toàn, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng... Tất cả những biểu hiện ấy, để công bằng, chúng ta không thể đơn thuần đổ lỗi mãi cho người dân thiếu hiểu biết, thiếu thẩm mĩ. Đó chẳng qua là sự yếu kém của công tác quản lí đủ tầm, thiếu sự hướng dẫn, điều tiết mang tính pháp qui mà chính quyền mỗi đô thị cần phải có.
Sáu là, quản lí kiến trúc đô thị cần quan tâm đến yếu tố đa ngành.
Trong hoạt động xây dựng đô thị, nhất là trong việc góp phần tạo dựng bộ mặt kiến trúc đô thị không phải chỉ có một người, một ngành, một công trình kiến trúc…tham gia. Mà ngược lại, ở đó là công sức của nhiều người, nhiều ngành, nhiều loại công trình (kiến trúc, kĩ thuật) tạo dựng mà thành. Một tuyến phố cứ đào lấp, rồi lại đào lấp để đặt cống, đi dây ngầm; một tuyến đường cứ “hồn nhiên” được nâng cao phần mặt đường so với cốt đã khống chế sau mỗi lần cải tạo, nâng cấp làm cho nhà dân hai bên đường “vô tình” trở lên bị ngập lụt; hệ thống dây điện, thông tin liên lạc cứ chằng chịt như “mê hồn trận” lơ lửng trên đầu dọc các tuyến phố không những là sự phản cảm mà còn là nguy cơ tiềm ẩn đối với vấn đề an toàn của đô thị… Tất cả đó là những biểu hiện của sự phối hợp thiếu tính đa ngành trong qui hoạch và quản lí xây dựng đô thị. Bởi vậy, yếu tố đa ngành trong công tác quản lí kiến trúc đô thị rất cần được quan tâm và không thể bị coi nhẹ. Sự đồng bộ, ngăn nắp của một tuyến phố không những tạo nên vẻ đẹp đô thị mà còn minh chứng cho sự thành công của công tác quản lí trong sự phối hợp đa ngành.
Bảy là, quản lí kiến trúc đô thị rất cần có sự tham gia của cộng đồng.
Tất nhiên, công tác quản lí kiến trúc đô thị ngoài trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân về quản lí kiến trúc đô thị như: Trách nhiệm của nhà đầu tư; của nhà thầu xây dựng; của nhà tư vấn kiến trúc, tư vấn qui hoạch xây dựng; của chủ sở hữu; của các Hội nghề nghiệp; sự giám sát cộng đồng…thì cần phải tăng cường thêm trách nhiệm giám sát của các đoàn thể, tổ chức quần chúng như Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh… Vai trò của cộng đồng trong công tác tham gia quản lí kiến trúc đô thị cũng đồng nghĩa với việc nhận thức, trình độ, lối sống đô thị, trách nhiệm cộng đồng của người dân được nâng cao.
Trên đây là một số khía cạnh cần trao đổi trong bài viết này, chỉ mang tính gợi mở nhằm góp phần vào việc thiết lập một công cụ quản lí kiến trúc đô thị với một niềm tin đô thị Việt Nam nói chung, kiến trúc đô thị Việt Nam nói riêng ngày một trật tự, ngăn nắp, chất lượng và đẹp hơn.
Tài liệu tham khảo:
- Luật Xây dựng năm 2003;
- Nghị định số 08/2005/NĐ - CP của Chính phủ về Qui hoạch xây dựng;
- Dự thảo Nghị định của Chính phủ về Quản lí kiến trúc đô thị;
- Ths.KTS. Ngô Trung Hải - Đề tài NCKH mã số RD 14, Nghiên cứu TKĐT trong QHXD đô thị.
- TS.KTS. Trương Văn Quảng - Thiết kế đô thị - Một số vấn đề cần trao đổi.
TS.KTS. Trương Văn Quảng
* Chính phủ tăng cường quản lý kiến trúc đô thị
Thông tư 08/2007/TT-BXD hướng dẫn lập, thẩm định phê duyệt quy chế quản lý kiến trúc đô thị vừa được Bộ Xây dựng ban hành ngày 10.9. Đây là một bước ngoặt trong khâu quản lý kiến trúc đô thị. Ngày 13.9, phóng viên Báo Lao Động đã trao đổi với ông Lê Đình Tri - Phó Vụ trưởng Vụ Quản lý kiến trúc quy hoạch (Bộ Xây dựng) - về vấn đề này, ông cho biết:
- Đây là lần đầu tiên vấn đề quản lý kiến trúc đô thị đã được luật hoá. Theo thông tư này, UBND các tỉnh, thành phố phải chỉ đạo các cơ quan chuyên môn xây dựng quy chế quản lý kiến trúc đô thị cụ thể. Hiện cả nước có 729 đô thị các loại tính từ thị trấn thị tứ trở lên và từ nay, việc quản lý kiến trúc của tất cả các đô thị này sẽ được luật hoá, được kiểm soát theo tiêu chuẩn và có chế tài cụ thể với những trường hợp vi phạm.
* Thông tư 08/2007/TT-BXD hướng dẫn lập, thẩm định phê duyệt quy chế quản lý kiến trúc đô thị vừa được Bộ Xây dựng ban hành ngày 10.9. Đây là một bước ngoặt trong khâu quản lý kiến trúc đô thị. Ngày 13.9, phóng viên Báo Lao Động đã trao đổi với ông Lê Đình Tri - Phó Vụ trưởng Vụ Quản lý kiến trúc quy hoạch (Bộ Xây dựng) - về vấn đề này, ông cho biết:
- Đây là lần đầu tiên vấn đề quản lý kiến trúc đô thị đã được luật hoá. Theo thông tư này, UBND các tỉnh, thành phố phải chỉ đạo các cơ quan chuyên môn xây dựng quy chế quản lý kiến trúc đô thị cụ thể. Hiện cả nước có 729 đô thị các loại tính từ thị trấn thị tứ trở lên và từ nay, việc quản lý kiến trúc của tất cả các đô thị này sẽ được luật hoá, được kiểm soát theo tiêu chuẩn và có chế tài cụ thể với những trường hợp vi phạm.Việc quản lý kiến trúc đô thị được luật hoá hơi muộn, song muộn vẫn cứ đáng mừng vì hy vọng bộ mặt đô thị sẽ không lem nhem, manh mún như hiện nay. Tuy nhiên, chỉ quản lý được các khu phố mới còn các khu cũ thì sao?
- Các khu phố cũ đang được khuyến khích cải tạo nâng cấp và khi đó sẽ phải tuân thủ những tiêu chuẩn kiến trúc mới. Ví dụ tại 31 Kim Mã, Cty 27.7 đang bỏ tiền mua lại toàn bộ tuyến phố cũ xấu xí, cải tạo và sắp xếp lại. Cách làm này đem lại lợi ích nhiều chiều cho cả nhà đầu tư, người dân sinh sống tại đây và bộ mặt đô thị. Đây cũng là cách làm của Trung Quốc và rất thành công. Ơ VN, đôi khi các nhà đầu tư gặp khó khăn vì các chủ nhà lẻ thường bắt bí đòi giá trên trời nên nhiều dự án theo cách làm này vẫn đang mắc.
Liệu việc quản lý kiến trúc đô thị quá cụ thể có làm cho các dãy phố giống nhau, biến cả đô thị thành một dạng nhà tập thể?
- Cách quản lý không theo kiểu cứng nhắc như vậy mà ấn định tiêu chuẩn chung. Ví dụ như quy hoạch kiến trúc thành phố Sa Pa, người Pháp đã làm là quy định theo hệ thống, phong cách chung song vẫn tôn trọng những phong cách kiến trúc cá nhân.Tuy nhiên, nó phải hài hoà với toàn tuyến phố về màu sắc hình thái kiến trúc và độ cao. Nếu những công trình kiến trúc dị biệt, ảnh hưởng đến cảnh quan chung sẽ không được chấp thuận.
- Xin cảm ơn ông!
Ngày 27-2-2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/NĐ-CP quy định công tác quản lý kiến trúc đô thị, quyền và trách nhiệm của tổ chức, tổ chức cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài có liên quan đến kiến trúc đô thị trên lãnh thổ Việt Nam phải tuân theo các quy định của Nghị định này…
NGHỊ ĐỊNH Về quản lý kiến trúc đô thị
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Xây dựng ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Xây dựng,
NGHỊ ĐỊNH :
Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Nghị định này quy định về công tác quản lý kiến trúc đô thị, quyền và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan đến kiến trúc đô thị.Điều 2. Đối tượng áp dụngCác tổ chức, cá nhân trong nư¬ớc, tổ chức, cá nhân nước ngoài có liên quan đến kiến trúc đô thị trên lãnh thổ Việt Nam phải tuân theo các quy định của Nghị định này.Điều 3. Giải thích từ ngữTrong Nghị định này các từ ngữ, khái niệm được hiểu như sau:1. Đô thị là phạm vi ranh giới địa chính nội thị của thành phố, thị xã và thị trấn; bao gồm các quận và phường, không bao gồm phần ngoại thị.
2. Không gian đô thị là toàn bộ không gian thuộc đô thị bao gồm: vật thể kiến trúc đô thị và khoảng không còn lại sau khi xây dựng ở trước, sau, trên, dưới, bên cạnh của công trình kiến trúc đô thị.
3. Kiến trúc đô thị là không gian vật thể đô thị bao gồm: các loại nhà; công trình kỹ thuật, nghệ thuật, cảnh quan đô thị; quảng cáo; các không gian công cộng và những công trình sẽ xây dựng theo quy hoạch mà sự tồn tại, hình ảnh, kiểu dáng của chúng chi phối hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến bộ mặt đô thị.
4. Cảnh quan đô thị là không gian cụ thể có nhiều hướng quan sát ở trong đô thị như: không gian trước tổ hợp kiến trúc, quảng trường, đường phố, vỉa hè, lối đi bộ, công viên, thảm thực vật, vườn cây, vườn hoa; đồi, núi, gò đất, đảo, cù lao, triền đất tự nhiên, dải đất ven bờ biển, mặt hồ, mặt sông, kênh, rạch qua đô thị và không gian sử dụng chung thuộc đô thị.
5. Tổ hợp kiến trúc là cụm nhà hoặc nhóm công trình trong đô thị có mối liên hệ chặt chẽ, đồng bộ về kỹ thuật và công năng giữa các hạng mục.6. Quy chế quản lý kiến trúc đô thị là những quy định về quản lý kiến trúc đô thị do Ủy ban nhân dân các cấp ban hành nhằm mục đích quản lý kiến trúc đô thị theo Nghị định này và các văn bản pháp luật có liên quan.
Điều 4. Yêu cầu của kiến trúc đô thị
Các công trình kiến trúc đô thị khi xây mới, cải tạo, chỉnh trang, sửa chữa phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:
1. Phù hợp với Định hướng phát triển kiến trúc Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và tuân thủ quy hoạch xây dựng đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
2. An toàn, bền vững trong quá trình sử dụng, thích hợp cho mọi đối tượng khi tiếp cận các công trình kiến trúc đô thị.
3. Hài hoà giữa các yếu tố tạo nên kiến trúc đô thị như vật liệu, màu sắc, chi tiết trang trí; đảm bảo trật tự chung, hoà nhập với cảnh quan khu vực, phù hợp với chức năng công trình.4. Đảm bảo sự thống nhất, hài hoà về hình thức; các chi tiết mặt ngoài; cao độ nền, chiều cao tầng một của các công trình kiến trúc ở trên từng tuyến phố hoặc khu vực đô thị.
5. Tôn trọng các yếu tố kiến trúc truyền thống, đặc điểm, khí hậu địa phương, phong tục, tập quán và bảo vệ cảnh quan, môi trường.
Điều 5. Quy chế quản lý kiến trúc đô thị
1. Quy chế quản lý kiến trúc đô thị làm căn cứ để xác lập nhiệm vụ và nội dung quy hoạch chi tiết chỉnh trang đô thị, thiết kế đô thị, quy định nội dung cấp phép xây dựng mới, cải tạo, chỉnh trang các công trình kiến trúc đô thị.
2. Quản lý kiến trúc đô thị theo các nguyên tắc sau:
- Quản lý thống nhất từ không gian tổng thể đến không gian cụ thể trong đô thị;
- Bảo đảm tính kế thừa, nhất quán về mặt kiến trúc của từng khu vực trong đô thị;
- Phù hợp với đặc điểm và điều kiện địa phương;
- Trước khi công bố Quy chế quản lý kiến trúc đô thị phải lấy ý kiến các cơ quan quản lý quy hoạch xây dựng, kiến trúc đô thị và ý kiến cộng đồng tại khu vực lập Quy chế.
3. Phân cấp lập, phê duyệt và ban hành Quy chế quản lý kiến trúc đô thị:
a) Ủy ban nhân dân các thành phố là đô thị từ loại 1 trở lên tổ chức lập, phê duyệt, ban hành Quy chế quản lý kiến trúc đô thị sau khi có ý kiến thẩm định của Bộ Xây dựng;
b) Ủy ban nhân dân các thành phố là đô thị loại 2, loại 3 và các thị xã, quận tổ chức lập Quy chế quản lý kiến trúc đô thị, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt;
c) Ủy ban nhân dân các thành phố là đô thị loại 2, loại 3 và Ủy ban nhân dân cấp huyện lập, phê duyệt và ban hành Quy chế quản lý kiến trúc đô thị cho các phường, thị trấn thuộc quyền quản lý, phù hợp với Quy chế quản lý kiến trúc đô thị đã được phê duyệt theo điểm b khoản này.4. Bộ Xây dựng quy định cụ thể và ban hành mẫu Quy chế quản lý kiến trúc đô thị.
Điều 6. Tính thống nhất và vai trò tham mưu, tư vấn chuyên môn trong quản lý kiến trúc đô thị
1. Để đô thị phát triển bền vững, hài hòa, mỹ quan, hiện đại, có bản sắc, cần phát huy vai trò tư vấn của Hội đồng Kiến trúc - Quy hoạch, các hội nghề nghiệp liên quan đến kiến trúc đô thị; hướng tới việc lập chức danh Kiến trúc sư trưởng thành phố.
2. Giao Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp Bộ Nội vụ quy định và hướng dẫn về cơ cấu, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Kiến trúc - Quy hoạch các cấp, về quy chế tư vấn của các hội nghề nghiệp và nghiên cứu đề án thành lập Kiến trúc sư trưởng thành phố; phối hợp với Bộ Tài chính quy định kinh phí hoạt động của Hội đồng Kiến trúc - Quy hoạch các cấp, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Điều 7. Thi tuyển và lấy ý kiến về phương án thiết kế công trình kiến trúc xây dựng
1. Đối với các công trình kiến trúc đô thị được quy định tại khoản 2 Điều 55 Luật Xây dựng, chủ đầu tư phải tổ chức thi tuyển thiết kế kiến trúc.
2. Các công trình kiến trúc đô thị khác không bắt buộc phải thi tuyển nhưng có vị thế, vị trí đặc biệt ảnh hưởng đến bộ mặt đô thị thì chủ đầu tư phải lấy ý kiến của các Hội nghề nghiệp hoặc chuyên gia về kiến trúc đô thị, của Hội đồng Kiến trúc - Quy hoạch, tham khảo ý kiến cộng đồng trước khi phê duyệt.
Điều 8. Quản lý, lưu trữ tài liệu liên quan đến kiến trúc đô thị
1. Các văn bản pháp lý, hồ sơ, bản vẽ, mô hình, thuyết minh, quy chế quản lý về quy hoạch xây dựng đô thị, Quy chế quản lý kiến trúc đô thị (sau đây gọi tắt là tài liệu) bao gồm:- Tài liệu về quy hoạch xây dựng đô thị, kiến trúc cảnh quan khu vực.
- Tài liệu về công trình kiến trúc và chi tiết công trình thuộc kiến trúc đô thị.
- Các tài liệu liên quan khác.
2. Tài liệu phải được quản lý, lưu giữ tại cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng, kiến trúc, quy hoạch; cơ quan bảo tồn, văn hoá; các tổ chức tư vấn, chủ đầu tư, nhà thầu xây dựng, chủ sở hữu công trình kiến trúc đô thị. Việc quản lý, lưu trữ và khai thác sử dụng được thực hiện theo quy định pháp luật về lưu trữ.
Chương II NỘI DUNG QUẢN LÝ KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ
Điều 9. Quy định đối với kiến trúc đô thị1. Khi xây dựng mới, cải tạo, chỉnh trang, nâng cấp công trình kiến trúc đô thị phải phù hợp quy hoạch chi tiết được cấp có thẩm quyền phê duyệt và tuân thủ giấy phép xây dựng và các quy định tại Quy chế quản lý kiến trúc đô thị của các địa phương.
2. Không được tạo thêm kết cấu bằng bất kỳ loại vật liệu nào nhằm tăng diện tích hoặc xây dựng cơi nới, chiếm dụng không gian đô thị. Nếu vi phạm sẽ bị xử phạt hành chính và phải dỡ bỏ theo quy định của pháp luật.
3. Kiến trúc đô thị xây dựng mới theo quy hoạch xây dựng được duyệt hoặc khi được phép chỉnh trang, cải tạo phải đảm bảo mỹ quan, an toàn, phù hợp với không gian xung quanh, đặc biệt đối với các công trình có mặt đứng đối diện với đường phố, mặt biển, sông, kênh, rạch, hồ nước.
4. Phần đất còn lại khi thực hiện công tác giải phóng mặt bằng theo quy hoạch phải có đủ diện tích, hình dạng theo quy định của Luật Xây dựng và Quy chế quản lý kiến trúc đô thị của chính quyền địa phương mới được cấp phép xây dựng.
5. Khi cải tạo, chỉnh trang, phục hồi, duy tu các công trình cổ không được dùng vật liệu khác biệt về tính chất, màu sắc để thay thế vật liệu vốn có của công trình đó.
6. Đối với các công trình kiến trúc xây dựng mới trong khu vực đã được công nhận là di sản kiến trúc phải sử dụng các loại vật liệu tương đồng về màu sắc, chất liệu với công trình vốn có của khu vực.7. Mặt ngoài công trình kiến trúc đô thị không được sử dụng màu sắc, vật liệu gây chói lóa hoặc phản xạ quá tiêu chuẩn về vệ sinh và an toàn cho sức khoẻ con người.
Điều 10. Các quy định đối với tổ hợp kiến trúc đô thịCác tổ hợp kiến trúc đô thị được quy định như sau:
1. Độ dài tối đa trên một tuyến thẳng dọc theo mặt đường phải bảo đảm các tiêu chuẩn về thông gió tự nhiên cho khu vực phía sau, thuận tiện cho giao thông và công tác phòng cháy, chữa cháy.
2. Độ cao tối đa của công trình kiến trúc được tính từ độ cao mặt vỉa hè khu vực quy định trong giấy phép xây dựng là giới hạn tối đa phần xây dựng của công trình. Không được xây dựng, lắp đặt thêm các vật thể kiến trúc khác cao hơn độ cao cho phép.
3. Khoảng lùi của công trình so với chỉ giới đường đỏ phải phù hợp đồ án quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 khu vực được cấp có thẩm quyền phê duyệt và các quy định tại Quy chế quản lý kiến trúc đô thị.
4. Công trình kiến trúc đô thị xây mới tại các lô đất có góc tạo bởi các cạnh đường phố giao nhau phải đảm bảo không cản trở tầm nhìn, đảm bảo an toàn, thuận lợi cho người tham gia giao thông.
Điều 11. Quy định đối với cảnh quan đô thị
1. Cảnh quan đô thị do chính quyền đô thị trực tiếp quản lý, chủ sở hữu các công trình kiến trúc đô thị có trách nhiệm bảo vệ, duy trì trong quá trình khai thác, sử dụng, quản lý theo Quy chế quản lý kiến trúc đô thị.
2. Khi xây dựng công trình kiến trúc đô thị tại những khu vực thuộc danh mục cảnh quan đô thị đã được chính quyền địa phương quy định quản lý phải hạn chế tối đa việc thay đổi địa hình nguyên trạng và phải được sự chấp thuận của chính quyền địa phương.
3. Đối với những khu vực cảnh quan gắn với di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, khu vực bảo tồn quốc gia hay của địa phương, chính quyền đô thị sở tại phải phối hợp với các cơ quan chuyên môn, tổ chức nghiên cứu, khẳng định giá trị khoa học trước khi đề xuất giải pháp, lập quy chế bảo tồn và khai thác.
4. Cây cổ thụ có trong các vườn tự nhiên, biệt thự, chùa, đền, am, miếu, nhà thờ, các di tích lịch sử - văn hoá, công trình công cộng đô thị phải được bảo tồn. Cơ quan quản lý cây xanh đô thị phối hợp với chủ sở hữu lập danh sách để bảo vệ, quản lý, chăm sóc theo quy định hiện hành.
5. Vỉa hè, đường đi bộ trong đô thị phải được xây dựng đồng bộ, hài hoà về cao độ, vật liệu, màu sắc từng tuyến phố; hố trồng cây phải có kích thước phù hợp về độ rộng, độ bằng phẳng của hè phố đảm bảo an toàn cho người đi bộ, đặc biệt đối với người tàn tật; thuận tiện cho việc bảo vệ, chăm sóc cây.
Điều 12. Quy định về quảng cáo trong đô thịVật quảng cáo độc lập ngoài trời hoặc gắn với các công trình kiến trúc đô thị phải tuân thủ quy định của pháp luật về quảng cáo. Nghiêm cấm việc đặt các loại quảng cáo không được phép của cơ quan có thẩm quyền.
Điều 13. Quy định về nhà ở đô thị
1. Đối với nhà ở tại khu phố cổ hoặc các khu vực khác thuộc đô thị đã được xếp hạng di tích, chính quyền đô thị phải tổ chức nghiên cứu, có giải pháp bảo tồn nguyên trạng kiến trúc đặc trưng của nhà cổ, phố cổ. Khi cần thay đổi, sửa chữa, duy tu, bảo dư¬ỡng phải thực hiện theo quy định pháp luật về di sản văn hoá và Quy chế quản lý kiến trúc đô thị.
2. Đối với nhà ở tại khu phố cũ nằm trong danh mục bảo tồn theo quy định của chính quyền đô thị khi cải tạo, chỉnh trang phải theo đúng đồ án quy hoạch xây dựng chi tiết hoặc theo dự án nâng cấp đ¬ược cấp có thẩm quyền phê duyệt.
3. Đối với nhà ở biệt thự, nhà vư¬ờn có khuôn viên riêng trong đô thị đã được liệt kê trong danh mục bảo tồn phải giữ gìn hình ảnh nguyên trạng, mật độ xây dựng, số tầng, độ cao và kiểu dáng kiến trúc. Nếu có yêu cầu phục chế, sửa chữa phải đảm bảo các yêu cầu tại khoản 2 Điều này.
4. Nhà ở mặt phố xây dựng mới phải phù hợp quy hoạch chi tiết đư¬ợc cấp có thẩm quyền phê duyệt. Khi xây dựng không đồng thời thì các nhà xây sau ngoài việc phù hợp với quy hoạch chi tiết được duyệt còn phải căn cứ vào cao độ nền, chiều cao tầng, màu sắc của nhà xây trư¬ớc đó đã được cấp phép.
5. Đối với nhà chung cư, nhà ở tập thể đã quá niên hạn sử dụng hoặc xuống cấp nằm trong danh mục nhà nguy hiểm, chính quyền đô thị phải có kế hoạch di chuyển các hộ dân ra khỏi khu vực nguy hiểm để tổ chức cải tạo, nâng cấp hoặc xây dựng chung cư mới theo quy hoạch chi tiết được cấp có thẩm quyền phê duyệt; đảm bảo an toàn, thuận tiện giao thông, vệ sinh môi trường và kết nối hạ tầng kỹ thuật.
Điều 14. Quy định đối với công trình cấp năng lượng, chiếu sáng đô thị
1. Trạm biến thế điện đã có, nếu ảnh hư¬ởng đến mỹ quan, giao thông đô thị thì chính quyền đô thị phải có biện pháp cải tạo hoặc xây dựng mới thay thế để đảm bảo các yêu cầu an toàn, mỹ quan và phải bố trí đi ngầm tối đa các đường dây.
2. Dây cấp điện trong đô thị phải được bố trí hợp lý trên nguyên tắc bỏ dây trần chuyển sang dây có bọc cách điện, tiến tới ngầm hoá toàn bộ.
3. Chiếu sáng công cộng trên đường phố hoặc riêng cho công trình, trên quảng trường, trong công viên phải hợp lý về chức năng, vị trí, thời gian chiếu sáng, độ rọi, an toàn, hiệu quả, tiết kiệm năng lượng. Việc chiếu sáng tại các khu vực, vị trí nêu trên phải phù hợp quy hoạch xây dựng, tiêu chuẩn chiếu sáng hiện hành. Cấm lạm dụng chiếu sáng làm ảnh hưởng đến môi trường, sức khoẻ con người, an toàn và mỹ quan đô thị.
4. Trạm bán xăng, dầu, cấp hơi đốt phải được bố trí theo quy hoạch xây dựng được duyệt, đảm bảo mỹ quan đô thị, có khoảng cách hợp lý và an toàn so với khu dân cư hoặc nơi tập trung đông người.
Điều 15. Quy định đối với công trình cấp, thoát nước, vệ sinh đô thị
1. Công trình cấp nước, thoát nước thải, các trạm bơm, bể chứa nước, đài nước, miệng thu nước thải, thu nước mưa, nắp cống, thiết bị chắn rác ở trên đường phố, trên lối đi bộ phải được thiết kế, lắp đặt bằng vật liệu thích hợp, đúng quy cách, bền vững và an toàn cho người, phương tiện giao thông và đảm bảo mỹ quan đô thị. Các loại họng cứu hoả bố trí trên phố phải có khoảng cách thích hợp, được đánh số kiểm soát, sơn màu dễ nhận biết, bố trí nơi đủ rộng để xe cứu hỏa ra vào.
2. Bờ hồ, bờ sông qua đô thị phải kè mái; nếu có rào chắn, lan can phải có giải pháp kiến trúc hợp lý; cấu tạo miệng xả nước bảo đảm an toàn, mỹ quan, phù hợp với cảnh quan toàn tuyến.
3. Nhà vệ sinh công cộng trên các ô phố, đường phố phải đảm bảo mỹ quan, thuận tiện cho mọi đối tượng sử dụng.
4. Thùng thu rác trên các tuyến phố phải được đặt đúng vị trí quy định, đảm bảo mỹ quan, có kích thước thích hợp với mọi đối tượng, sử dụng thuận tiện và dễ nhận biết.
Điều 16. Quy định về công trình giao thông trong đô thị
1. Đối với các công trình giao thông và các công trình phụ trợ giao thông trong đô thị: phải được thiết kế đồng bộ bảo đảm lưu thông cho người và phương tiện; bảo đảm các tiêu chuẩn về ánh sáng, vệ sinh môi trường và công tác phòng cháy, chữa cháy; có kiểu dáng, màu sắc bảo đảm yêu cầu mỹ quan và đặc thù của đô thị, phù hợp với các công trình khác có kiên quan trong đô thị. Ưu tiên đường dành riêng cho người khuyết tật, khiếm thị.
2. Đối với các công trình bảo đảm an toàn giao thông trong đô thị: phải được thiết kế đồng bộ với hệ thống giao thông, bảo đảm nguyên tắc thoát người nhanh khi xảy ra sự cố cháy nổ hoặc thiên tai; có tín hiệu dễ nhận biết cho người khuyết tật; có kích thước, kiểu dáng, màu sắc bảo đảm yêu cầu mỹ quan và đặc thù của đô thị.
Điều 17. Quy định đối với công trình thông tin trong đô thị
1. Khi xây dựng mới tháp truyền hình trong đô thị phải chọn vị trí xây dựng thích hợp về cảnh quan, đảm bảo bán kính phục vụ, phù hợp quy hoạch xây dựng được duyệt.
2. Ăng-ten thu, phát sóng phải lắp đặt đúng vị trí mà cơ quan quản lý đô thị cho phép.
3. Dây điện thoại, dây thông tin phải được thay thế bằng dây tổ hợp; dỡ bỏ các thiết bị và đường dây không còn sử dụng, tiến tới ngầm hoá toàn bộ.4. Hộp kỹ thuật thông tin, thùng thư, trạm điện thoại công cộng, thiết bị thông tin trên vỉa hè phải được bố trí theo quy hoạch được duyệt, phù hợp với kích thước hè phố và có kiểu dáng, màu sắc phù hợp, hài hoà, dễ sử dụng, không cản trở người đi bộ.
5. Bộ Bưu chính, Viễn thông quy định và hướng dẫn chi tiết việc thực hiện quản lý hệ thống đường dây và thiết bị thông tin trong đô thị.
Điều 18. Quản lý về duy tu, bảo trì công trình
1. Chính quyền đô thị quy định quy trình duy tu, bảo trì kiến trúc đô thị theo quy định pháp luật về xây dựng, đảm bảo an toàn trong sử dụng và duy trì mỹ quan đô thị.
2. Khi công trình kiến trúc đô thị bị hư hỏng cục bộ, chi tiết mặt ngoài xuống cấp trước thời hạn quy định bảo trì thì chính quyền đô thị hoặc cơ quan được ủy quyền có trách nhiệm thông báo và chỉ đạo chủ sở hữu hoặc người đang sử dụng, cơ quan quản lý công trình kịp thời khắc phục, sửa chữa.
Điều 19. Quy định về các khu vực đặc thù trong đô thị
1. Các khu vực đặc thù gồm các khu vực chủ yếu sau:
a) Khu trung tâm đô thị cũ, khu trung tâm đặc thù hoặc khu vực có mật độxây dựng cao;
b) Khu phố cổ, làng cổ trong đô thị, khu bảo tồn, khu di tích lịch sử -văn hoá, danh lam thắng cảnh;
c) Khu phố cũ có giá trị về di sản kiến trúc;
d) Khu chuyên dụng cho du lịch, thể dục- thể thao, văn hoá;
đ) Khu vực dọc bờ biển, bờ sông, bờ hồ, kênh, rạch; đồi, núi, rừng cây; khucảnh quan đặc biệt.
e) Khu phố có các khu ở, nhà ở các loại đang xuống cấp hoặc có nhiều nhà tạm;g) Khu phát triển nhà ở, khu đô thị mới.Tại các đô thị có những khu vực mang tính đặc thù, chính quyền đô thị có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan chức năng, chỉ đạo cơ quan chuyên môn khảo sát, đo đạc, nghiên cứu, thống kê để làm cơ sở cho việc phân vùng, lập Quy chế quản lý kiến trúc đô thị; lập kế hoạch bảo tồn, tôn tạo, phục hồi, chỉnh trang, cải tạo hoặc nâng cấp theo nhu cầu và theo phân cấp quản lý đô thị.
2. Những khu vực đặc biệt khác của đô thị như gần đường sắt, đường cao tốc, khu vực sân bay, hành lang bảo vệ đê điều, căn cứ quân sự thì việc xây dựng mới, chỉnh trang công trình kiến trúc đô thị phải tuân thủ theo quy định an toàn hành lang giao thông, bảo vệ đê điều, an ninh quốc gia.
3. Những khu vực dân cư, khu vực có công trình kiến trúc đô thị nằm trong hành lang bảo vệ tuyến dây tải điện cao áp phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật về điện lực.
Điều 20. Quy định về công trình kiến trúc đô thị đặc thù
1. Công trình tôn giáo, tín ng¬ưỡng trong đô thị khi xây dựng, cải tạo, trùng tu phải thực hiện theo quy định pháp luật về xây dựng, về tôn giáo, tín ngưỡng, về di sản văn hoá và các quy định liên quan tại Nghị định này.
2. Những công trình kiến trúc đô thị mang ý nghĩa lịch sử, văn hóa quốc gia hoặc của địa phương, tượng danh nhân đất nước, những biểu tượng văn hoá chung của đô thị phải lập quy chế quản lý riêng.
3. Các công trình kiến trúc mang tính đặc thù như: tượng đài, công trình trang trí trong đô thị, đài phun nước, tiểu cảnh trong vườn hoa được bố trí theo quy hoạch được duyệt; có hình dáng, quy mô, chất liệu phù hợp với điều kiện thực tế, thể hiện được phong cách văn hoá mỗi vùng, miền.
Điều 21. Quy định về những loại kiến trúc khác của đô thị
1. Nhà công sở, công trình thể thao, văn hoá, trường học, bệnh viện, cơ sở y tế xây dựng mới trong khu dân cư đô thị phải tuân thủ quy hoạch xây dựng được duyệt; có khoảng lùi phù hợp so với mặt đường để thuận tiện cho việc tập kết, giải toả người và phương tiện giao thông khi cần thiết.
2. Các công trình chợ, siêu thị xây dựng mới trong đô thị cần có bãi đỗ xe, được bố trí hợp lý, đáp ứng đủ diện tích theo tiêu chuẩn, thuận tiện, an toàn, không ảnh hưởng đến giao thông đi bộ trên vỉa hè; đảm bảo trật tự, vệ sinh và mỹ quan đường phố.
3. Cổng, hàng rào, nơi gắn Quốc huy, treo cờ Tổ quốc, biểu tượng, bảng ghi tên, địa chỉ cơ quan phải được thiết kế vị trí, kích cỡ hợp lý; tạo sự uy nghiêm, trang trọng, không ảnh hưởng đến tầm nhìn; khi hưhỏng phải thay thế kịp thời.
4. Công trình công nghiệp, nhà xưởng sản xuất đang tồn tại trong các khu đô thị có ảnh hưởng xấu đến môi trường phải di dời hoặc chuyển đổi chức năng sử dụng.
5. Công trình phục vụ mục đích an ninh và quốc phòng trong đô thị theo quy định của pháp luật về quốc phòng khi thay đổi nội dung, mục đích sử dụng, phát triển mở rộng phải được cấp có thẩm quyền cho phép; việc xây dựng không được làm ảnh hưởng đến an toàn và cảnh quan, môi trường đô thị.
Chương III TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC TỔ CHỨC, CÁ NHÂN ĐỐI VỚI KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ
Điều 22. Trách nhiệm của chủ sở hữu, chủ đầu tư, ngư¬ời sử dụng công trình kiến trúc đô thị
1. Tuân thủ các quy định thuộc Quy chế quản lý kiến trúc đô thị do chính quyền đô thị ban hành và các quy định quản lý đô thị liên quan khác; bảo vệ gìn giữ hình ảnh, tình trạng hiện có của công trình kiến trúc đang sở hữu, đang sử dụng; khi công trình hư hỏng, phải sửa chữa kịp thời.
2. Chủ đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp công trình kiến trúc đô thị phải thực hiện đúng quy hoạch xây dựng và Quy chế quản lý kiến trúc đô thị được duyệt. Chỉ sau khi được phép của cơ quan có thẩm quyền mới được thay đổi về kiến trúc, chức năng sử dụng, kết cấu chịu lực của công trình; thêm hoặc bớt các bộ phận, thay đổi hình thức và chất liệu lợp mái nhà, màu sắc công trình, chất liệu ốp, chi tiết hoặc các bộ phận thuộc mặt ngoài công trình. Nếu không tuân thủ Quy chế quản lý kiến trúc đô thị, vi phạm trong xây dựng sẽ bị xử phạt hành chính và phải dỡ bỏ theo quy định pháp luật.
3. Chủ đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp công trình kiến trúc đô thị có trách nhiệm nghiên cứu, xem xét ý kiến tư vấn, phản biện về kiến trúc đô thị của các hội nghề nghiệp, chọn phương án kiến trúc trước khi trình duyệt hoặc quyết định phê duyệt dự án thuộc thẩm quyền.
4. Khi cho tổ chức hay cá nhân thuê công trình để sử dụng, chủ sở hữu phải ký kết hợp đồng, trong nội dung hợp đồng phải ghi đủ các yêu cầu, nội dung ở các khoản 1 và 2 Điều này.
5. Tổ chức, cá nhân thực tế đang sử dụng như¬ng không phải là chủ sở hữu công trình cũng phải tuân thủ đầy đủ các nội dung ghi tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này.
Điều 23. Trách nhiệm của tư vấn thiết kếTư vấn thiết kế công trình kiến trúc đô thị như: tổ chức tư vấn thiết kế, tác giả công trình, chủ nhiệm đồ án có quyền giám sát theo quy định pháp luật; chịu trách nhiệm liên quan về mỹ quan, độ bền vững, an toàn và tính hợp lý trong sử dụng, phù hợp với môi trường, cảnh quan kiến trúc đô thị.
Điều 24. Trách nhiệm của nhà thầu xây dựngNhà thầu xây dựng công trình kiến trúc đô thị có trách nhiệm hoàn thành công trình đúng thiết kế, đúng thời hạn và các quy định đã cam kết trong hợp đồng. Trong quá trình thi công, hoàn thiện, sửa chữa, bảo trì công trình phải có biện pháp hạn chế tối đa các ảnh hưởng xấu đến cộng đồng dân cư; có trách nhiệm cùng với chủ đầu tư trong việc tái tạo môi trường cảnh quan bị hư hại do thi công công trình gây ra.
Điều 25. Giám sát cộng đồng về kiến trúc đô thị
1. Cộng đồng hoặc cá nhân người dân có quyền giám sát các hoạt động của chính quyền đô thị, của tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các quy định pháp luật về xây dựng, Quy chế quản lý kiến trúc đô thị; trong việc bảo quản, khai thác, sửa chữa, chỉnh trang các công trình kiến trúc và cảnh quan đô thị theo quy định của pháp luật hiện hành.
2. Cộng đồng hoặc cá nhân người dân có trách nhiệm và được quyền phản ảnh các sai phạm, vi phạm Quy chế quản lý kiến trúc đô thị trong khu vực lên chính quyền đô thị trực tiếp quản lý.
3. Căn cứ để giám sát là: các tài liệu văn bản quy phạm pháp luật liên quan kiến trúc đô thị, đồ án quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500, thiết kế đô thị, mô hình được lập trên tỷ lệ quy hoạch chi tiết đã phê duyệt, Quy chế quản lý kiến trúc đô thị đã ban hành, bản vẽ xây dựng công trình đã đ¬ược cấp có thẩm quyền phê duyệt và công bố.
Chương IV QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ
Điều 26. Trách nhiệm quản lý nhà n¬ước về kiến trúc đô thị
1. Bộ Xây dựng giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về kiến trúc đô thị và thực hiện các nhiệm vụ sau:
a) Soạn thảo, điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn về quản lý kiến trúc đô thị;
b) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan và các địa phương hướng dẫn thi hành, tuyên truyền, phổ biến và tổ chức thực hiện Nghị định này;
c) Hướng dẫn các địa phương thực hiện các văn bản của Chính phủ về quản lý kiến trúc đô thị, thi tuyển phương án kiến trúc; trả lời các yêu cầu của địa phương, tổ chức, cá nhân về kiến trúc đô thị trong phạm vi chức năng;
d) Kiểm tra, thanh tra về kiến trúc đô thị, trả lời các khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật.
2. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Xây dựng hướng dẫn các địa phương thực hiện quản lý nhà nước về kiến trúc đô thị.
Điều 27. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấpỦy ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm toàn diện về bộ mặt kiến trúc đô thị và xử lý các sai phạm về kiến trúc đô thị trên địa bàn quản lý. Theo phạm vi chức năng phải thực hiện các quy định trong Nghị định này và các nhiệm vụ sau:
1. Soạn thảo Quy chế quản lý kiến trúc đô thị, tổ chức lấy ý kiến, hướng dẫn, theo dõi, giám sát, tổ chức việc thực hiện Quy chế quản lý kiến trúc đô thị.
2. Quy định trách nhiệm cho các cơ quan chức năng trực thuộc về quản lý kiến trúc đô thị tại điạ bàn quản lý; phân cấp và giao nhiệm vụ cụ thể cho đơn vị, cá nhân trực tiếp theo dõi, giám sát, thực hiện Quy chế quản lý kiến trúc đô thị.
3. Trực tiếp xem xét, quyết định theo thẩm quyền về các nội dung liên quan đến quản lý kiến trúc đô thị như: chủ tr¬ương đầu tư¬ xây dựng công trình, nội dung dự án, quy trình xây dựng, quản lý, khai thác, bảo quản, sửa chữa, cải tạo công trình, cảnh quan và môi trường xây dựng trên địa bàn đô thị.
4. Thông báo cho chủ sở hữu hoặc chủ sử dụng tình trạng hư hỏng của kiến trúc đô thị; xử lý các thông tin phản ảnh của người dân về việc thực hiện Quy chế quản lý kiến trúc đô thị đối với tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc xây dựng mới, sở hữu, sử dụng công trình kiến trúc đô thị; xử phạt, xử lý, cưỡng chế các trường hợp vi phạm Quy chế quản lý kiến trúc đô thị theo quy định pháp luật.
5. Chỉ đạo các cơ quan chuyên môn chọn lựa khu vực điển hình để nghiên cứu triển khai làm mô hình đô thị thí điểm, tiến tới nghiên cứu thiết kế lập mô hình tổng thể cả đô thị theo tỷ lệ thích hợp để quản lý được thuận lợi.
6. Tổ chức phổ biến và thực hiện các văn bản của Chính phủ về quản lý kiến trúc đô thị.
7. Chỉ đạo các cơ quan chuyên môn trực thuộc về xây dựng, quy hoạch, kiến trúc, văn hoá, thông tin, bưu chính, viễn thông, giao thông, công chính, tài nguyên, môi trường, công nghiệp và các cơ quan liên quan khác triển khai việc thực hiện quản lý kiến trúc đô thị theo chức năng, nhiệm vụ.
8. Phân công, tổ chức, theo dõi việc thực hiện Nghị định này và các quy định của Quy chế quản lý kiến trúc đô thị tại địa bàn quản lý.
9. Tổng kết, báo cáo kết quả thực hiện theo định kỳ; kiến nghị về nội dung, phương pháp quản lý kiến trúc đô thị, chỉnh trang đô thị lên cấp trên.
Điều 28. Kiểm tra, thanh tra, báo cáo và xử lý vi phạm
1. Thanh tra xây dựng có nhiệm vụ kiểm tra, thanh tra tại chỗ tình hình thực hiện Quy chế quản lý kiến trúc đô thị trên địa bàn, định kỳ báo cáo lên chính quyền đô thị và cơ quan quản lý trực tiếp.
2. Tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định về Quy chế quản lý kiến trúc đô thị và các quy định tại Nghị định này tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Chương V TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 29. Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.
TM. CHÍNH PHỦ -THỦ TƯỚNG
Nguyễn Tấn Dũng - đã ký
Quản lý kiến trúc trước Hội trường Thống Nhất
UBND TPHCM vừa ban hành quy chế quản lý kiến trúc đô thị đối với 4 ô phố trước Hội trường Thống Nhất (phường Bến Nghé, quận 1) nhằm bảo tồn các công trình có giá trị lịch sử lân cận như: Hội trường Thống Nhất, Công viên 30-4, nhà thờ Đức Bà...Với tổng diện tích 63.099 m², ở các ô phố này, hiện trạng kiến trúc chủ yếu là biệt thự thấp tầng. Sắp tới, bốn khu phố trên sẽ gồm các công trình dịch vụ, thương mại hay nhà ở với mật độ xây dựng tối đa 60%, góc giới hạn chiều cao công trình là 45 độ. Còn tầng cao phụ thuộc vào vị trí trên từng tuyến đường. Nhưng nhìn chung, các công trình giáp mặt đường được cao 3 tầng (đỉnh mái tối đa là 16,8 m). Bắt đầu từ ranh giới phía sau công trình giáp mặt đường đến giới hạn 23 m tính từ lộ giới, chiều cao là 5 tầng (đỉnh mái tối đa 23,6 m). Còn lại, các công trình nằm sâu bên trong 2 loại công trình trên được cao 8 tầng (đỉnh mái tối đa 33,8 m).

No comments:

Post a Comment